Vang vọng hồn thiêng bất tử…

Lê Phong 09:29, 31/07/2026

Có một thực tế, viết về chiến tranh cách mạng và người lính trong bối cảnh đương đại, càng ngày càng khó. Cái khó đến từ nhiều phía. Người viết (nhất là những người viết trẻ) có ít kinh nghiệm, ít bận tâm sâu xa, thường trực về đề tài này.

Lớp người đã đi qua chiến tranh với những trải nghiệm máu thịt ngày càng thưa vắng. Di sản đồ sộ của văn học sử thi cách mạng đang tỏa bóng lên những thực hành viết đương đại. Sự hấp dẫn của những đề tài khác đang vẫy gọi người viết. Sự loãng phai của cảm hứng sử thi trong tinh thần con người - xã hội…

Tập thơ "thanh âm vùng biên"

Thế nhưng, có cái khó nào bằng việc đối diện kẻ thù, cái chết? Có cái khó nào bằng việc hy sinh cuộc đời, máu xương, hạnh phúc của riêng mình? Có cái khó nào bằng những năm tháng dãi dầu mưa chan nắng lửa, rét buốt trên những nẻo biên cương mịt mù xa thẳm? Cuộc sống có thờ ơ, vô cảm, lãng quên những hy sinh, mất mát của người lính, trong thời chiến và cả thời bình? Những câu hỏi ấy, những băn khoăn dằn vặt, cả niềm kính yêu tưởng vọng ấy luôn thôi thúc những ngòi bút có nhiều duyên nợ với người lính và chiến tranh cách mạng, trong đó có nhà thơ Nguyễn Xuân Việt.

Nguyễn Xuân Việt, trước hết là một người lính. Những năm tháng thanh xuân đi qua bom đạn; những trải nghiệm máu thịt với đời lính - người lính trên khắp nẻo biên cương… đã cho ông nguồn dưỡng chất quý giá, làm thành mạch thơ đằm thắm, đọng lại ở 65 bài trong tập Thanh âm vùng biên (Nxb Hội Nhà văn, 2023). Tôi muốn gọi thanh âm lấy là những “vang vọng hồn thiêng bất tử”, bởi ta nghe dâng lên từ đây những niềm thương yêu kính ngưỡng, của quá khứ và hiện tại, của những gì đang từng ngày nối tiếp mạch sống và hiến dâng hào hùng, kì vĩ ấy.

Thanh âm vùng biên mang cảm hứng sử thi bi tráng. Cảm hứng này vọng bay lên từ mạch lõi là tư tưởng thương yêu và kính ngưỡng mà tác giả dành cho Tổ quốc, người lính. Không dừng lại ở cảm hứng sử thi lãng mạn như văn chương nghệ thuật thời trước (1945 - 1975), khía cạnh bi tráng đã làm đầy đủ hơn cái nhìn về quá khứ gian lao, hào hùng cùng những hy sinh thầm lặng mà cao cả của những thế hệ chiến sĩ vệ quốc Việt Nam. Cảm hứng sử thi bi tráng bao trùm, làm thành khí hậu chung xuyên suốt tập thơ, định hình không gian - thời gian nghệ thuật, thế giới hình tượng, ngôn ngữ thơ, giọng điệu và thái độ trong thơ: Trấn biên cương còn đó muôn đời/ Máu trộn thành sông. Xương đông thành đá/ Lãnh thổ chủ quyền. Lưu truyền muôn thuở/ Vượng khí lưu dày. Đất Việt hồn thiêng (Trấn biên cương). Lời thơ như lời hịch, vang vọng, đinh ninh, nhắc nhủ con người về truyền thống hào hùng, ý chí kiên cường và những giá trị thiêng liêng làm nên Đất Nước. Nguyễn Xuân Việt đã không dừng lại ở cảm hứng tự hào say mê mà nhận ra đằng sau những vinh quang chói lọi là “Máu trộn thành sông. Xương đông thành đá”. Để có được những giá trị bất tử, phải đánh đổi bằng bao máu xương, đó là điều vĩnh viễn không thể nguôi quên. Và, những hy sinh đó cũng trở thành bất tử, khi ta nghĩ về sự trường tồn của Đất Việt. Đọc thơ Nguyễn Xuân Việt, chợt nhớ những trang thơ lẫm liệt của Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân và nhiều người khác nữa, khắc tạc nên dáng hình bất tử: Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi bài ca/ Có những con người như chân lí sinh ra (Hãy nhớ lấy lời tôi - Tố Hữu); Em ơi em, hãy nhìn rất xa/ Vào bốn nghìn năm đất nước/ Năm tháng nào cũng cũng người người lớp lớp/ Con gái con trai bằng tuổi chúng ta /…/ Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Những họ đã làm ra Đất Nước (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm); Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)… Nguyễn Xuân Việt đã nhập được vào mạch cảm hứng sử thi bi tráng ấy, nên thơ ông khỏe mạnh mà thấm thía, rắn rỏi mà xúc động: Có thể nào nguôi quên/ Lời quyết tử vọng về từ biển/ Phút giây thiêng/ Cờ Tổ quốc quấn quanh mình/ Những anh hùng ngã xuống/ Vì biển đảo thiêng liêng/…/ Con tàu đi qua/ Vòng hoa trôi lặng lẽ/ Nước mắt hòa vào từng đợt sóng Trường Sa (Trường Sa và Anh)… Dường như, có tiếng sóng, tiếng gió, cùng âm hưởng bi tráng vọng về từ biển cả, thúc giục lòng ta thêm yêu thương, gắn bó, quyết tâm giữ vững chủ quyền đất trời và biển đảo quê hương. Âm hưởng ấy vọng qua thời gian, kết tụ hào khí ngàn đời, định hình tư thế Việt Nam trước phong ba bão táp của lịch sử.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Việt

Thanh âm vùng biên xác lập một không gian nghệ thuật phân tuyến khá rõ, theo mô hình của văn học sử thi: hậu phương - tiền tuyến (chiến trường - biên thùy - hải đảo). Khi thiết lập không gian này, Nguyễn Xuân Việt vừa có khả năng kết nối vào mĩ cảm truyền thống trong văn học sử thi giai đoạn trước, đồng thời mở rộng cái nhìn vào hiện tại, để thấy rằng, từ thời chiến đến thời bình, dẫu chiến tranh đã qua đi, nhưng với người lính, vẫn không phút nào rời xa những vùng không gian đặc thù, làm nên “đời lính”.

Hãy nói về không gian chiến trường - biên ải, trong thơ Nguyễn Xuân Việt. Đặc tính của không gian này là địa hình hiểm trở, cuộc sống khó khăn gian khổ, hiểm nguy và cái chết rình rập. Thơ có thể chẳng nói hết những gì người lính đã trải qua, nhưng từ thơ, ta nhận ra Nguyễn Xuân Việt viết bằng những trải nghiệm thực tế với vùng không gian này, nơi có đồng chí đồng đội và những năm tháng trẻ trung bi tráng: Dải đất miền Trung gian khổ dày thêm/ Mất mát, hy sinh… chẳng gì đếm được /…/ Đất nơi đây, chỗ nào cũng đạn bom/ Mảnh vỡ thép gang… dày hơn cát sỏi/ Đồng ruộng thành ao hồ, nham nhở/ Con thú, con chim… chẳng còn có lối về (Hành quân vào giới tuyến). Trải nghiệm chiến tranh đã cho Nguyễn Xuân Việt cái nhìn của người trong cuộc. Thơ ông không cầu kì khi đứng trước những vùng chiến địa. Bởi lẽ, chẳng ai tô vẽ được gì lẫm liệt, bi tráng, đau thương, hào hùng hơn cuộc sống chiến đấu và hy sinh của người lính trên chiến trường. Giản dị và kì vĩ như là sống và chết, như là dâng hiến đời mình cho lí tưởng cao cả của dân tộc, không một giây khắc đắn đo: Đơn vị còn lại mươi người/ chẳng đứa nào lành nguyên/ băng vết thương quanh đầu/ thay “vòng tang” đồng đội/ chẳng biết ngày mai… đứa nào nằm lại/ nhưng tất cả đồng lòng/ “vì biên giới thiêng liêng” (Đêm biên giới).

Thời bình, nhưng không gian chiến địa vẫn hiện diện trong thơ Nguyễn Xuân Việt. Đó chính là điệp trùng biên cương, hải đảo dọc dài đất nước. Nơi đây, vẫn chưa lúc nào nguôi yên những gian khổ hy sinh của người lính. Bởi thế, như là một vọng âm từ tâm thức người Việt ngàn đời, đời lính, người lính và không gian sống của họ luôn là những “chiến địa”: Những chuyến tuần tra/ Xuyên rừng, băng núi/ Phục kích truy lùng tội phạm/ Đối tượng vô hình, giấu mặt/ Hiểm nguy lơ lửng trên đầu/ Máu vẫn đổ giữa thời bình/ Tuổi xuân nơi biên cương. Nằm lại… (Trấn biên cương). Nhấn mạnh không gian chiến địa thời bình là một điểm rất đáng ghi nhận trong cảm quan thẩm mĩ của Nguyễn Xuân Việt. Phải là người gắn bó sâu sắc với biên cương hải đảo, tác giả mới thấm thía đến nhường ấy những hiểm nguy vây bủa người lính. Và thơ ông, cất lên từ chính nhịp đập của trái tim tuổi trẻ nơi vùng biên ải này.

Có những vùng không gian mộng mơ xen giữa nhịp sống hiểm nguy gian khó chốn biên thùy. Đó là khi Nguyễn Xuân Việt ngước lên, theo ánh mắt, tâm tư người lính. Một mùa xuân bừng nở hoa ban, hoa đào; trong tiếng sáo, tiếng khèn và men rượu nồng say của những chàng trai cô gái miền sơn cước. Không gian yêu thương, nghĩa tình là mảng màu tươi thắm, là âm điệu trong trẻo nơi núi rừng phên dậu: Chàng trai H.Mông dạy ta điệu khèn/ đêm buông xuống gọi tình bên suối/ bếp nhà sàn rực hồng lửa cháy/ men rượu ngô ngây ngất lối về (Cảm xúc biên thùy); Xuân về trên biên cương/ Núi rừng mờ sương khói/ Lắng nghe bên khe suối/ Ru đưa một giọng đàn (Xuân về trên biên cương). Trong tầm mắt và trong tâm tư người lính, có một vùng không gian đầy luyến nhớ. Ấy là quê nhà - hậu phương. Nguyễn Xuân Việt viết về hậu phương người lính như là nơi cất giữ những hình ảnh thân thương, nuôi giữ và làm nên sức mạnh, ý chí, nâng bước chân người lính trên tuyến đầu bảo vệ Tổ quốc: Đêm ngắm ánh sao sa/ Nhớ quê nhà da diết/ Nhớ con sông mùa nước/ Nhớ ruộng lúa đồng ngô/…/ Nơi quê hương tuổi thơ/ Ngụp vào trong mưa nắng (Trấn biên cương); Ngắm cành hoa/ nơi rừng chiều biêng biếc/ thầm nhớ bông hồng thân thuộc vườn quê (Đường tuần tra)…

Có thể nói, không gian hậu phương luôn song hành cùng không gian chiến địa - biên thùy trong Thanh âm vùng biên. Đây là logic nội tại trong cảm quan thi sĩ khi viết về người lính, nhìn từ góc nhìn người lính. Từ góc nhìn này, chúng ta nhận ra có sự xoắn luyến, đan cài giữa “Nơi đi - Nơi đến/ Nơi hiện diện - Chốn mơ về”. Tưởng là tách bạch, nhưng kì thực, với người lính chỉ có một niềm yêu thương, gắn bó và quyết tâm bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc: Mỗi bước chúng ta đi/ có hình bóng quê hương/ nơi biên cương Tổ quốc (Đường tuần tra); Tháng Ba mùa hoa gạo/ Rực đỏ trời biên cương/ Một màu hoa yêu thương/ Cháy giữa hai miền nhớ (Nhớ ơi tháng Ba)… Biên thùy hay hậu phương đều là Tổ quốc. Ý thơ của Nguyễn Xuân Việt mang đậm chất lính khi thắp lên màu hoa đỏ cháy giữa hai miền nhớ, thành thực mà da diết, đầy lãng mạn trong tâm tư người chiến sĩ.

Nếu chẳng có không gian - vật chất, thời gian biết nương tựa vào đâu? Thời gian là vô tính, nhưng thời gian hiện hữu trong vật chất, bằng sự quy ước của con người, lưu dấu trên hành trình sống của mình. Với người lính, nơi tiền tuyến hay hậu phương, thời gian trở thành một thước đo những trải nghiệm rộng dài, sâu thẳm, vượt lên những đo đếm của các khuôn thước vật lí. Dẫu vẫn tính năm tính tháng tính mùa, dẫu vẫn nhắc ngày giờ, nhưng tất cả được chuyển hóa và lắng lọc qua thế giới tinh thần của người lính. Tựu chung, có thể gọi, thời gian nghệ thuật trong Thanh âm vùng biên là “thời thanh xuân yêu thương và dâng hiến”. Đây cũng là những năm tháng làm nên sự bất tử của “những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Không chỉ như thế, Nguyễn Xuân Việt triệu hồi quá khứ với thời gian dài rộng để vọng tưởng về lịch sử hào hùng bi tráng, nối kết vào tinh thần của đời sống hôm nay: Tấc đất là máu xương/ Ngàn đời nay gìn giữ/ Ghi tạc vào lịch sử/ Bản trường ca anh hùng (Biên giới là thiêng liêng). Thời gian trong Thanh âm vùng biên là thời ba lô trên vai, bạc sờn quân hàm ve áo; thời dấn nước trên những nẻo đường Trường Sơn vào tuyến lửa, trên đường tuần tra truy kích tội phạm; thời cách chia vời vợi với những yêu thương chờ đợi phía quê nhà; thời trẻ trung xao xuyến trước một màu hoa, trước một dáng hình yêu kiều miền sơn cước, trước mỗi ban mai hay hoàng hôn thắc thỏm màu mây xứ sở: Đường Thanh Niên bờ hoa rợp lối đi/ Đường biên cương… sương tràn trắng lối/…/ Phút giao thừa thêm một mùa chờ đợi/ Hai phương trời. Hai phía ở xa xa (Hai phía mùa xuân). Và, trong nhịp điệu đời lính, có những người mãi mãi sống với thanh xuân, khi hiến dâng đời mình cho Tổ quốc: Bỏ lại những năm tháng thanh xuân/…/ Họ nằm lại giữa Trường Sơn bát ngát/ Như khúc khúc quân hành họ từng hát bên nhau (Hành quân vào giới tuyến).

Ở trung tâm của không gian - thời gian trong Thanh âm vùng biên là hình tượng người lính. Người lính thời chiến, người lính thời bình, mang trong mình dòng máu chiến binh kiêu hùng của lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó cũng là người lính sôi nổi, lãng mạn, mê say như chính tuổi đời trẻ trung của họ. Nguyễn Xuân Việt là lính, hơn ai hết, ông hiểu những gì đã đi qua, những gì đang diễn ra trong tâm tư người lính: Đêm nay. Đêm mai/ Tiếng súng xé tan cả một vùng trời/ Đồng đội. Ai còn, ai mất?/ Họ nắm chặt tay nhau/ Như tất cả đều đã biết// Trong đêm tối mắt hướng về phía trước/ Căng thẳng dồn lên từng mét chiến chiến hào/ Những người lính. Vai sát vai nhau/ Trái tim ấm nung nấu bầu nhiệt huyết (Chờ giặc tới - Biên giới Tây Nam, 1978); Anh ở ngoài kia gió lạnh, sương sa/ Cái rét biên thùy không xua tan cái khét nồng bom đạn/ Tôi ở trong này/ Sông nước miền Tây/ Không rửa hết mùi hôi tanh của lũ quân Pôn Pốt/ Một trận tuyến ở hai đầu thôi thúc trái tim ta (Trận tuyến ở hai đầu - 2/1979).

Thanh âm vùng biên có những bài thơ được Nguyễn Xuân Việt viết trong chiến tranh, ở những thời điểm khốc liệt nhất của lịch sử. Đó là 1972 ở Vĩnh Linh - Quảng Trị; 1978 ở biên giới Tây Nam, 1979 ở biên giới phía Bắc… Rồi khi biển đảo quê hương bị xâm phạm, khi biên cương chưa yên trước sự dòm ngó của kẻ thù, cả khi dịch bệnh tràn về, tội phạm lẩn khuất… người lính ở đấy, nhận lấy phần gian khổ hy sinh, để giữ yên bờ cõi, bảo vệ đất nước và nhân dân. Có điều gì cao đẹp hơn thế nữa?

Để có mùa hoa sim nơi biên giới

Có giọt máu hồng thấm dọc đường biên

(Trở lại Đàm Thủy)

Nhưng, người lính không đơn độc. Trong Thanh âm vùng biên, ta nhận ra sự gắn kết thân thương của tình đồng chí đồng đội, tình cảm của nhân dân bản làng, tình quê, tình mẹ, tình em… Đó là những hình tượng được xây dựng bên cạnh trung tâm người lính, mang đến một thi giới ấm áp, ắp đầy tình nghĩa yêu thương. Trong gian khó hiểm nguy, khi đối diện kẻ thù, cái chết, hay cả những khoảnh khắc mơ mộng bên một sắc hoa rừng, một ánh sao khuya dọc đường tuần tra, người lính luôn cảm nhận rõ những tình cảm dâng lên từ đất và người nơi anh đi qua. Đó là động lực, tiếp thêm sức mạnh cho người lính trên tuyến đầu bảo vệ Tổ quốc: Nghĩa bản, tình dân ngấm vào máu thịt/…/ Đồng đội bên nhau/ Những năm tháng can trường (Trấn biên cương); Đêm vẫn dài lê thê/ quê nhà xa xa lắm/ những phút giây tĩnh lặng/ nhớ mẹ đến vô cùng (Đêm biên giới); Mình mãi giữ/ cho con nụ cười/ giữ cho nhau tình yêu, nỗi nhớ/ chốn biên thùy muôn trùng cách trở/ em hiểu rồi… vợ lính mà anh (Vợ lính biên phòng). Phải đứng từ vị trí người lính nơi tuyến đầu, canh giữ biên cương hải đảo mới thấm thía tận cùng nghĩa tình đồng đội, tình yêu đất nước và những người thân yêu bình dị chốn quê nhà. Ý thơ, tình thơ trong Thanh âm vùng biên thật chân thành, chạm vào trái tim người đọc một cách đằm thắm, da diết.

Cảm hứng bi tráng, tư tưởng yêu thương kính ngưỡng trước sự trường tồn của dân tộc, sự bất tử của hồn thiêng sông núi, sự hy sinh thầm lặng kì vĩ của những người lính trong thơ Nguyễn Xuân Việt đã xác lập nên hệ thống ngôn ngữ - lời thơ khá đặc trưng. Có thể nhận ra 4 lớp ngôn ngữ - lời thơ chủ đạo trong thế giới Thanh âm vùng biên: lớp ngôn từ thành kính ngưỡng vọng/ lớp ngôn từ khắc tạc rắn rỏi/ lớp ngôn từ lãng mạn say mê/ lớp ngôn từ căm phẫn. Khảo sát hệ lời trong Thanh âm vùng biên, chúng ta nhận ra những lớp ngôn từ như thế: Nắng gió đại dương da thịt ướp săn/ gió dập, sóng xô… chân bền, tay chắc/ giữa bão bùng chớp giật/ vẫn vững vàng kiên trung (Sóng biên phòng); Chúng tôi. Xẻ dọc rừng sâu leo mòn đá núi/ Bước chân in trên khắp miền biên giới/ Lấy tim mình chắn che/ Nơi Tổ quốc bắt đầu (Chúng tôi lính biên phòng); Xa Mát, Lò Gò, Chàng Riệc, Phước Tân/ Những chiến công nằm sau từng bia mộ/ Mất mát, đau thương dưới từng vạt cỏ/ Căm thù cuồn cuộn tận tầng mây (Vết thương không lành); Chiến tranh đưa ta đi hai lối/ Bỏ lại mối tình và bờ hoa dại bên sông (Tình em bên dòng Bến Hải)…

Thực ra, các sắc thái của lời thơ không phân tách, biện biệt, mà đan cài xuyên thấm vào nhau. Vẫn là người lính ấy, khi hình dung về Tổ quốc thiêng liêng họ như thấy hồn thiêng của lớp lớp cha anh từ ngàn xưa vọng về. Cũng là người lính ấy, khi đối diện kẻ thù, hiểm nguy, cái chết, lời thơ cũng ánh lên sự bất khuất can trường. Cũng người lính ấy, trước vẻ đẹp mơ mộng của đất trời non nước, tình người, thì say đắm, lãng mạn. Và, khi chứng kiến tội ác của kẻ thù, lời thơ lại bùng lên sắc thái căm phẫn. Ý tình là hương của tư tưởng, neo đậu trong hình tượng, ngôn từ, mang đến những sắc thái đặc trưng cho phong cách trữ tình Nguyễn Xuân Việt.

Những sắc thái của lời thơ trong Thanh âm vùng biên làm hiện hình giọng điệu, thái độ của chủ thể trữ tình. Có thể thấy, vọng lên trong thi giới của Nguyễn Xuân Việt là giọng tráng ca bi thiết; giọng tâm tình chia sẻ; giọng suy tư chiêm nghiệm; giọng bi phẫn. Thơ là khoảnh khắc của tâm trạng, thoát bay lên từ cuộc sống thật căng đầy trong tâm tư thi sĩ. Vì thế, lắng nghe giọng điệu, cảm nhận thái độ, ta hiểu rằng những khoảnh khắc ấy, chất sống đã thăng hoa thành chất thơ: Đồn biên phòng mọc giữa rừng cây/ Cờ đỏ sao vàng rực hồng trên đỉnh cột/ Người lính trẻ. Súng trong tay đứng gác/ Anh có thấy điều gì khi Tổ quốc gọi tên?// Mấy chục năm rồi tiếng súng đã lặng im/ Mà Thanh Thủy, Vị Xuyên. Vẫn hằn nguyên kí ức/ Biên giới tháng Hai muôn đời không quên được/ Cuộc chiến này ghi tạc núi sông (Tháng Hai trở lại Hà Giang).

Sông núi thiêng liêng. Tổ quốc bất tử. Để làm nên sự thiêng liêng bất tử ấy là máu xương, công sức hàng ngàn năm của con người trên xứ sở này. Cũng vì thế, những thế hệ đã dâng hiến đời mình cho Tổ quốc cũng trở nên bất tử. Bản trường ca kì vĩ ấy đã ngân vọng từ ngàn xưa, đến hiện tại và mãi mãi về sau. Nguyễn Xuân Việt viết về điều ấy với tư tưởng kính ngưỡng sâu sắc, nhưng không vì thế mà diệu vợi siêu hình. Thơ đọng lại chân thành trong hình tượng người lính cùng ý chí tiếp nối truyền thống can trường của lớp lớp cha anh. Từ cảm hứng bi tráng và tư tưởng kính ngưỡng, Nguyễn Xuân Việt kiến tạo nên thi giới đậm đặc chất sử thi. Thanh âm vùng biên đã kế thừa truyền thống văn học sử thi cách mạng và lan tỏa tinh thần yêu nước trong đời sống đương đại. Tình yêu đó làm nên sự trường tồn, bất tử của non sông Việt Nam.