Đã có nhiều bài viết về Nhà thơ Cầm Giang, tác giả của những bài thơ nổi tiếng như “Núi mường Hung - dòng sông Mã; “Nhớ vợ”; “Em tắm”; “Em là con gái Châu Yên”… Nhưng chuyện về ông trong thời gian hơn 10 năm làm Y tá ở Mỏ than Làng Cẩm có lẽ ít người biết.

Nhà thơ Cầm Giang
Tư liệu về Nhà thơ Cầm Giang trên báo chí cho biết: Nhà thơ Cầm Giang tên thường gọi là Lương Cẩm Giang, tên khai sinh là Lê Gia Hợp, bút danh Cầm Giang, Bạc Văn Ùi, Cầm Vĩnh Ui, sinh ngày 2-5-1931 tại thôn Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Năm 15 tuổi, đang học trung học, ông bỏ nhà ra Hà Nội đi bán báo kiếm sống, được ông Lương Hữu Ca (quê ở thôn Khách Nhi, xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) cưu mang, nhận làm con nuôi. Năm 18 tuổi, ông tham gia Vệ Quốc Đoàn. Tháng 2-1950, ông làm Y tá ở F.335 (Tây Bắc).
Thời kỳ này ông bắt đầu sáng tác thơ văn. Ông thông thạo ngôn ngữ Thái và phong tục Thái. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã có khá nhiều tập thơ mang âm điệu của các đồng bào dân tộc Tây Bắc như: Gió núi biên phòng; Thành rồng – thành hổ; Rừng trắng hoa ban; Núi Mường Hung; Dòng sông Mã; Quê tôi Điện Biên; Du kích bản Mo… Năm 1958, ông xuất ngũ, làm việc ở Mỏ than Làng Cẩm (Thái Nguyên). Năm 2017, nhân kỉ niệm 60 thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông được truy tặng Giải thưởng Cống hiến Hội Nhà văn Việt Nam (đợt 1).
Khi tìm tài liệu để biên soạn cuốn sách Lịch sử về Mỏ than Làng Cẩm (Thái Nguyên), tôi đã gặp những người từng ở cùng dãy nhà; ăn cơm cùng mâm với anh em nhà thơ Cầm Giang. Mới hay, nhà thơ Cầm Giang làm y tá ở Mỏ than Làng Cẩm từ năm 1958. Đến 1967, Mỏ than Làng Cẩm giải thể, một số công nhân chuyển sang Mỏ than Phấn Mễ; nhiều thợ lò chuyển đi Mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh); số công nhân cơ khí chuyển sang Nhà máy Cơ khí mỏ Việt Bắc… Khi đó, hoàn cảnh gia đình nhà thơ Cầm Giang gặp khó khăn (người vợ thứ 2 mất), ông về quê bố nuôi, xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc dạy học và hành nghề y. Sau đó ông đi bước nữa và sống cùng vợ con tại đây đến khi qua đời, năm 1989.
Trong thời gian làm việc tại Mỏ than Làng Cẩm, nhà thơ Cầm Giang tham gia thành lập Chi hội Văn nghệ Việt Bắc và là Ủy viên BCH khóa đầu tiên Chi hội Văn nghệ Việt Bắc (Chủ tịch là nhà thơ Nông Quốc Chấn; Phó Chủ tịch là nhà thơ Bàn Tài Đoàn).
Ở mỏ, ông làm việc tại Trạm xá mỏ. Trạm xá ngày ấy thiếu phương tiện khám chữa bệnh. Dù vậy, với kinh nghiệm nghề y trong Quân đội, ông đã cứu chữa nhiều công nhân và bà con địa phương khỏi bệnh. Đặc biệt, do Trạm xá không có nữ hộ sinh nên Nhà thơ Cầm Giang đã trực tiếp đỡ đẻ, cắt rốn cho rất nhiều trẻ sơ sinh, con các thợ mỏ. Trên trang facebook “Thợ mỏ Làng Cẩm” nhiều cựu thợ mỏ Làng Cẩm nhận mình là người được nhà thơ Cầm Giang “cắt rốn” cho mình qua lời kể của bố mẹ; Nhiều người bày tỏ sự kính trọng, biết ơn tới nhà thơ Cầm Giang…

Ông Nguyễn Văn Chỉ, cựu thợ lò Than Làng Cẩm từ 1958 – 1968 với tác giả bài viết.
Ông Phạm Văn Thình, sinh năm 1937, thợ lò Mỏ Làng Cẩm từ 1958 - – 1968, hiện ở Làng Địa chất 110, xã An Khánh, Thái Nguyên kể: Ông với nhà thơ Cầm Giang có thời gian dài ở cùng phòng trong “Tập đoàn 2” (khu tập thể công nhân mỏ); hai người yêu quý nhau như anh em ruột. Thời ấy, ông Thình là thợ lò xuất sắc, nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Những lần ông cũng như anh em thợ mỏ lập thành tích xuất sắc trong sản xuất, Nhà thơ Cầm Giang đều viết bài biểu dương và trực tiếp đọc trên Đài truyền thanh của Mỏ.
Điều thú vị là, trong mỏ, mỗi khi có đám cưới, nhà thơ Cầm Giang đều lo khâu tổ chức và làm thơ tặng đôi uyên ương. Với ông Thình, khi cưới vợ cũng được nhà thơ Cầm Giang tặng thơ, đến nay ông còn thuộc. Bài thơ như thế này:
“Thình ơi, gắn bó ân tình
Nhưng không phải lập gia đình là xong
Tình yêu biển rộng mênh mông
Cưới nhau mới chỉ là xong bước đầu
Còn bao nhiêu bước về sau
Vợ chồng đi trọn nhịp cầu thủy chung
Cho nên mỗi lượt qua sông
Người ta thường tự hỏi lòng người ta
Yêu nhau cốt nhất thật thà
Như màu hoa đỏ, hoa cà rừng quê
Mây bay là bởi gió về
Trăng tròn là bởi trăng thề với sông
Mang thêm trách nhiệm người chồng
Từ lâu, lâu vẫn một lòng, Thình ơi…
Bà Lê Thị Bày, sinh năm 1937, cựu công nhân sản xuất than cốc, hiện ở phố Thiên Hiền, phường Cầu Giấy, Hà Nội, kể: Nhà thơ Cầm Giang ngoài công việc ở Trạm xá mỏ, ông còn tham gia nhiều hoạt động của mỏ, đặc biệt là phong trào văn hóa, văn nghệ. Thời ấy, mỏ có Câu lạc bộ Công nhân, nơi sinh hoạt văn nghệ và nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Câu lạc bộ thường tổ chức thi thơ, viết bích báo. Các cuộc thi do nhà thơ Cầm Giang chấm và được tuyên truyền trên loa truyền thanh của mỏ.
Nhà thơ Cầm Giang làm nhiều thơ về lao động sản xuất, thơ tặng các đôi cưới nhau. Bà Lê Thị Bảy khi cưới cũng được ông tặng thơ nhưng lâu rồi, bà quên. Nhà thơ Cầm Giang còn sáng tác ca khúc. Bài hát của nhà thơ Cầm Giang ca ngợi những cô gái luyện than cốc đến nay bà vẫn thuộc mấy câu:
Nghiêng nghiêng vành nón trên than
Đôi tay em hất nhịp nhàng
Than em đen, lòng em trắng
Than em tỏa sáng…
Ông Nguyễn Văn Chỉ, sinh năm 1939, cựu thợ lò Than Làng Cẩm từ 1958 - 1968, hiện ở xã Phú Lạc, kể: thời ở Mỏ than Làng Cẩm, Nhà thơ Cầm Giang đưa cô em gái, tên là Nguyệt ra nuôi, cho ăn học. Hai anh em ở trong một gian trong “nhà tập đoàn” (khu nhà ở công nhân); đến bữa, anh em ông ăn cơm ở nhà ăn tập thể mỏ. Nhà ăn phát vé cho cán bộ, công nhân. Vé ăn có nhiều mức. Thợ lò, tiêu chuẩn gạo 24kg/tháng thì mức ăn nhiều cơm hơn. Nhà thơ Cầm Giang là Y tá, tiêu chuẩn lương thực 13kg/tháng mà 2 anh em chung một suất ăn, đói kịch liệt! Thương tình, 5 thợ lò (vé ăn tiêu chuẩn 24kg), gộp vào vé 13kg của nhà thơ Cầm Giang, đủ “biên chế” một mâm 6 người và em gái nhà thơ Cầm Giang. Nhờ những suất ăn thợ lò, em gái nhà thơ Cầm Giang lớn lên, phổng phao, được học hết cấp 2 ở mỏ.
