Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc là nguồn cảm hứng lớn cho những sáng tác văn học nghệ thuật. Đối với văn học dân tộc thiểu số, những tác phẩm đã có cho thấy đề tài về chiến tranh cách mạng chưa bao giờ đứt mạch, thậm chí âm thầm bền bỉ tạo thành một dòng chảy với những dấu ấn quan trọng trong cả thơ, truyện ngắn, trường ca, tiểu thuyết, ký… Thế hệ đầu tiên như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại (dân tộc Tày), Đinh Sơn (dân tộc Mường), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao)… có nhiều đóng góp cho diện mạo thơ ca cách mạng thế kỷ XX. Thành công tiếp tục được ghi nhận ở đội ngũ đông đảo những tác giả trưởng thành từ trong cuộc chiến rồi sau hòa bình như Triều Ân, Y Phương, Y Điêng, Ma Đình Thu, Mã A Lềnh, Triệu Kim Văn, Kim Nhất, Mai Liễu, Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Nông Thị Ngọc Hòa, Bùi Thị Như Lan... và lứa những tác giả trẻ khám phá chiến tranh từ cái nhìn mới như Hoàng Chiến Thắng, Lý Hữu Lương...

Với tác giả là người dân tộc thiểu số, họ cũng tham gia vào công cuộc cách mạng bằng một cảm hứng dồi dào, nhiệt thành rất riêng; những trang viết chính là nét khắc họa về lịch sử tâm hồn, lịch sử đời sống đấu tranh của dân tộc họ. Nông Quốc Chấn đã khẳng định sứ mệnh cao cả của những người con Việt Bắc với đất nước: Chúng tôi người Việt Bắc/ Không một lúc nào quên/ Giành Nam Bắc nối liền/ Giành lấy ngày thống nhất. Hình ảnh cuộc chiến oai hùng, bất khuất của dân tộc hiện lên cũng với những sắc thái phong phú, nhưng cái làm nên nét độc đáo của họ chính là cách thể hiện, truyền tải xúc cảm riêng. Sự nhận thức về số phận con người, dân tộc: Các anh chị: Tày, Nùng, Kinh, Mèo, Mán…/ Tạm xếp nương chàm, khung dệt, quả còn/ Tạm biệt nhà sàn về ngủ lán/ Giữ đèo Giàng là giữ bản thôn (Người thanh niên giữ đèo Giàng - Nông Minh Châu, dân tộc Tày). Khi “bốn mươi thế kỉ cùng ra trận” thì tinh thần, lòng tin, quyết tâm, khí thế, tình người… có mặt trong khắp mọi nẻo đường, trong mọi bài ca, vần thơ. Vì thế những sáng tác ấy tuy còn mộc mạc, không cầu kỳ câu chữ, không đẽo gọt hình ảnh nhưng vẫn được nhiều thế hệ độc giả yêu mến bởi cảm xúc chân thành.
Văn xuôi hiện đại các dân tộc thiểu số chỉ thực sự hình thành và phát triển sau Cách mạng Tháng Tám. Sau những truyện ngắn được công bố rải rác của các tác giả Triều Ân, Lâm Ngọc Thụ, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Vương Trung… tuyển chọn Ké Nàm ra mắt năm 1965 báo hiệu sự lớn mạnh đầy triển vọng của một thế hệ các tác giả viết văn xuôi người dân tộc thiểu số. Lúc này, Ở rừng (Nam Cao), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc)… đã truyền cảm hứng và tiếp sức không nhỏ cho một ý thức sáng tạo đổi mới của các cây bút người dân tộc thiểu số. Hiện thực cuộc sống và chiến đấu của đồng bào vùng cao phải được phản ánh một cách đầy đủ và sinh động hơn, không chỉ với thơ mà với truyện ngắn, tiểu thuyết –những thể loại ôm chứa được hiện thực bề thế đang diễn ra.
Cuộc kháng chiến chống Pháp dù ít được khắc họa hơn nhưng cũng để lại dấu ấn đậm nét ở một số tác phẩm. Tiêu biểu có Bên bờ sông Hinh của Y Điêng, tái hiện cuộc sống của một buôn làng Ê Đê trong những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ở giai đoạn sau này, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, bên cạnh việc phản ánh một đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cuộc chiến đấu ở mặt trận giải phóng miền Nam đi vào trong nhiều sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số. Với truyện ngắn đầu tiên Ché Mèn được đi họp (Nông Minh Châu) kể về sự giác ngộ cách mạng của một cô gái trẻ người dân tộc Tày, sau này trong Mẹ con chị Nải, Những cô gái đảm đường cầu, Trận địa giữa ruộng bậc thang… Nông Minh Châu đã khắc họa sinh động hình ảnh những con người vùng cao bình dị, quyết tâm chiến đấu bám đường, bám trận địa.
Hầu hết cách khắc họa trong những tác phẩm thời kỳ đầu vẫn mang những nét thô mộc, giản dị trong miêu tả con người, chân thực như chính cách họ sống: A Pá cao khỏe như con trâu mộng, nhanh như con sóc núi, biết thổi khèn, biết múa, biết đánh sảng, biết làm việc tốt, biết xung phong đánh Mỹ khi Tổ quốc cần… trong Tiếng khèn A Pá của Triều Ân; cảnh chiến đấu ác liệt, dù có hy sinh nhưng vẫn chung sức chung lòng của quân và dân miền núi; đồng thời lột tả sự thất bại thảm hại của hàng trăm phản lực Mỹ trong Sông gọi (Hoàng Hạc), Cô gái nhặt bông gạo (Hữu Tiến), Kém Boong (Hoàng Luận)… Trước năm 1975, cũng là thế hệ đầu tiên đặt nền móng cho văn học Ê đê là nhà văn Y Điêng, truyện ngắn đầu tiên Em chờ bộ đội Wa Hồ với lối viết mộc mạc, chất phác thể hiện tình cảm, tâm lý người dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cùng thời kỳ đó, Mlô Y Clavi (1930) với những sáng tác thơ tràn ngập một tình yêu quê hương tha thiết, từ lúa chín, lễ hội, kể khan, tiếng sáo, tiếng đàn… đến hình ảnh những năm tháng chiến đấu của quê hương; tiêu biểu nhất với Cô gái vót chông với lối viết vừa bay bổng vừa giàu sức khái quát; Nay Nô (1948) tuy ít sáng tác nhưng có những tác phẩm ký giàu chất thơ, khơi gợi được không khí chiến đấu giải phóng miền Nam… Hơ Giang của Y Điêng nói về quá trình giác ngộ và hoạt động cách mạng của cô gái trẻ Tây Nguyên - Hơ Giang cần cù, chịu thương chịu khó. Cô rơi vào hoàn cảnh éo le khi mình thì cống hiến hết mình cho cuộc chiến đấu của buôn làng Tây Nguyên, còn chồng là Y Soa lại bị sự mua chuộc dụ dỗ đã đi làm biệt kích cho Mỹ. Cuối cùng, sự quả cảm và tinh thần không khuất phục kẻ thù của cô đã làm cầu nối đoàn kết sức mạnh buôn làng vùng lên chống trả bọn Mỹ Ngụy, khiến chúng phải hốt hoảng tháo chạy. Dù Hơ Giang hy sinh nhưng “thù vẫn còn lại ở buôn làng. Buôn làng sẽ tiếp tục chiến đấu thay chị. Con của chị sẽ xây dựng buôn làng to đẹp hơn”. Tiểu thuyết Mũi tên ám khói của Ma Trường Nguyên khai thác hình ảnh những người cán bộ Việt Minh, bối cảnh diễn ra là vùng suối Khuôn Tát (thác Đèo De) dãy núi Hồng nơi căn cứ địa cách mạng và ATK thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp…
Dù là khi còn chiến tranh hay khi đã hoàn toàn giành thắng lợi, cảm hứng ngợi ca luôn được thể hiện rõ nhất, nhiều cảm xúc nhất ở thơ dân tộc thiểu số. Trong đó nổi lên hình ảnh Bác Hồ - nơi bày tỏ niềm tự hào và tôn kính của những đứa con trước sự hồi sinh mà Người mang đến. Thơ Bàn Tài Đoàn ở lại lâu trong lòng độc giả một phần cũng bởi những bài thơ như Đời ta có Hồ Chí Minh, Muối của Cụ Hồ, Bác Hồ sống mãi trong lòng ta... Việc sử dụng lối điệp trong thơ ca dân gian được khai thác triệt để. Nó làm cho nhịp thơ đều đặn, ngôn từ thêm dễ nhớ, dễ thấm vào lòng người: Mùa lạnh nhắc tới Hồ Chí Minh cái bụng ấm/ Mùa nắng nhắc tới Hồ Chí Minh mây thêu mặt trời hồng/ Mùa thu nhắc tới Hồ Chí Minh mây lắng, trời trong/ Mùa xuân nhắc tới Hồ Chí Minh cây cỏ đơm nhựa trổ bông… (Prêkimalamak - dân tộc Châu-ro). Cao hơn hết là niềm tin tuyệt đối vào sự lựa chọn của Bác: Năm nay Bác tròn 113 tuổi/ Người đi xa vẫn vạch sẵn cuộc hành trình/ Cho đất nước dân tộc ta đi tới/ Làm chủ cuộc đời làm chủ hành tinh (Đường lối Hồ Chí Minh - Triệu Kim Văn, dân tộc Dao).

Hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ - nhân vật trung tâm của thời đại đã được Nông Quốc Chấn và nhiều tác giả dân tộc thiểu số khắc họa xúc động, chân thành. Anh bộ đội giải phóng Buôn Mê Thuột đẹp rạng ngời, lẫm liệt nhưng không kém phần giản dị, lãng mạn… trong thơ Alê Yđứp - dân tộc Ê Đê:
Ta là con của vạn rừng nghìn núi
Nguyện thề xin hiến tuổi xuân
Cùng các bạn diệt hết loài quỷ Mỹ
Để trở về giữa mùa hoa Êpang.
(Bài ca hành quân)
Đặc biệt, những người lính áo chàm trong thơ Y Phương: Quế/ Anh chiến sĩ áo chàm/ Trán dô/ Mũi thô/ Môi dày/ Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón/ Nhịn đói không kêu/ Ốm đau không kêu/ Nhớ mẹ quá thì ngồi trên đá/ Nhớ rồi khóc không cho ai biết (Chín tháng)… là những con người lớn lên đụng đầu với đá, mang tâm hồn của núi rừng, suối ngàn; khác với cái hào hoa của những chàng trai Hà Nội trong Tây Tiến của Quang Dũng, Ngày về của Chính Hữu… Nhưng tất cả gặp nhau ở điểm chung là sống cuộc sống gạt bỏ tình riêng, tự nguyện hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước như cách mà nhà thơ Pháp Lu-i A-ra-gông khẳng định: Nếu phải đi trở lại/ Tôi đi lại đường này/ Một tiếng từ ngục tối/ Nói đến những ngày mai…
Bên cạnh những tác giả đã thành danh và có vị trí vững chắc trong nền văn học Việt Nam, tiếng nói trẻ hiện diện trong nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay cho thấy tính tiếp nối, xu hướng vận động đặt trong tiến trình vận động của văn học nghệ thuật nói chung. Những tác giả có sự định hình lối viết trong đội ngũ văn học trẻ đương đại các dân tộc thiểu số có thể kể đến không ít. Sáng tác của họ là một mảnh đất đầy hứa hẹn mà nhiều nhà lý luận phê bình có thể có những thử nghiệm phân tích để mang đến cái nhìn mới về bản sắc của các cộng đồng dân tộc trong thời hiện đại. Có thể thấy, việc tìm kiếm tính hiện đại và đa sắc của những tác giả như Hoàng Chiến Thắng, Nông Quang Khiêm, Lý Hữu Lương, Phùng Hải Yến… nằm ở việc không tự bó mình vào một thể loại hay vào những hình mẫu đã thành chuẩn mực. Và vẫn những tính tẩu, điệu Páo dung, tiếng khèn, lời khan - khắp - cọi; vẫn cuộc sống chân tình của người miền núi; vẫn sự đa sắc của phong tục tập quán; vẫn tình yêu bền bỉ mộc mạc của trai gái vùng cao… nhưng tiếng nói của thế hệ này tìm ra sự mới lạ trong cách thể hiện. Đặc biệt, với một thể loại tưởng như vừa quen thuộc vừa khó tìm ra những nét mới, các tác giả trẻ vẫn có những dấu ấn đáng ghi nhận.
Trong những sáng tác của những tác giả thuộc vào thế hệ thứ ba của văn học dân tộc thiểu số bắt đầu có những khai thác sâu sắc hơn đến vấn đề riêng của con người, những thân phận nhỏ bé - bởi thế nó mang tính nhân văn hơn khi chứa đựng những tâm tư, tình cảm vui buồn sâu lắng và cả những bi kịch cá nhân. Bên cạnh đó, văn học dân tộc thiểu số hiện nay cũng chứng kiến sự bứt phá mới lạ của nhiều gương mặt trẻ, trong số đó có một vài tác giả trẻ hướng cái nhìn của mình về chiến tranh.
Hiện nay, sự “va đập” của con người với cuộc sống không còn là những ngày kháng chiến gian khổ mà là sự vật lộn, lo toan với những cái thường nhật, cảm hứng dĩ nhiên cũng sẽ thay đổi. Tuy nhiên nhiều tác giả của văn học dân tộc thiểu số vẫn đang mải mê kiếm tìm, làm mới những xúc cảm của mình, và khai thác đề tài này từ nhiều góc độ. Họ không chỉ phản ánh chiến tranh với sự bừng bừng khí thế mà đã đào sâu vào hiện thực, nhận thức và tái hiện cuộc chiến ở nhiều mặt, trong đó nhấn mạnh đến những góc còn khuất lấp - đó là số phận của những người lính, người mẹ, người vợ và cả những đứa con đang chịu nhiều đau khổ khi đất nước đã hòa bình. Khi cuộc sống khác, một hiện thực mới mở ra, văn học nghệ thuật cần hướng đến một đối tượng phản ánh mới, đáp ứng thị hiếu của công chúng mới. Hòa mình vào hiện thực mới, không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn những đề tài đã cũ, bởi thế nhiều nhà văn vẫn kiên trì khai thác và khám phá ra những “vỉa quặng còn lấp lánh”.
Từ thực tiễn nhiều hy vọng đó, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số cần có sự đầu tư cho những sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng, khơi dậy niềm tự hào cho thế hệ trẻ và tri ân quá khứ. Ở đề tài này, chúng ta trông đợi ở bản lĩnh bước tiếp, sự quyết liệt của thế hệ trẻ, từ sự đầu tư đúng mức, sự quan tâm chăm sóc của các tổ chức văn học nghệ thuật. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hôm nay, các tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh cách mạng dù vang bóng một thời vẫn tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng lớn? Có lẽ bên cạnh cái khí thế hào hùng của cuộc chiến đã qua, cần có thêm những câu chuyện gắn với đời sống của người lính thời bình, tinh thần của những chiến sĩ đang bảo vệ vùng biển của Tổ quốc... Với đội ngũ các tác giả dân tộc thiểu số, lợi thế và sự độc đáo chắc hẳn đến từ sự đông đảo và đa sắc.
