Có những giá trị càng đi qua thử thách của thời gian càng trở nên sâu sắc. Độc lập, tự do là những giá trị như thế trong lịch sử dân tộc Việt Nam. 81 năm kể từ mùa Thu năm ấy, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, tư tưởng về quyền độc lập, tự do của dân tộc, quyền hạnh phúc của nhân dân vẫn vẹn nguyên ý nghĩa. Đó không chỉ là nền tảng tư tưởng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn là hệ giá trị soi đường cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh: Tư liệu
Quyền con người và quyền dân tộc
Trong hành trình tìm đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta sớm nhận ra rằng, độc lập dân tộc không thể là một khái niệm trừu tượng, càng không thể chỉ dừng lại ở việc thay đổi đối tượng cai trị. Độc lập phải gắn với quyền làm chủ của nhân dân, với tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của mỗi con người.
Ngày 2/9/1945, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn những tư tưởng tiến bộ của nhân loại về quyền con người thông qua Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789. Từ quyền của mỗi con người, Người phát triển thành một luận điểm có ý nghĩa lịch sử và thời đại: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Có thể nói, đó là một bước phát triển sáng tạo, sâu sắc về tư tưởng quyền con người. Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người chỉ có thể được bảo đảm đầy đủ khi dân tộc được sống trong độc lập. Một dân tộc mất nước thì quyền của mỗi người cũng bị chà đạp.
Vì thế, lời khẳng định cuối Tuyên ngôn Độc lập trở thành một trong những tuyên ngôn bất hủ của lịch sử Việt Nam hiện đại: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.
Đồng thời, Người khẳng định ý chí của cả dân tộc: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!” Độc lập cũng vì thế vừa là quyền thiêng liêng của dân tộc, vừa là thành quả phải được bảo vệ bằng ý chí, sức mạnh và sự hy sinh của toàn dân.
Độc lập để nhân dân được tự do, hạnh phúc
Điểm đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người không bao giờ tách độc lập dân tộc khỏi tự do và hạnh phúc của nhân dân. Minh chứng rõ nét là ngày 21/1/1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói rõ khát vọng của mình, đó là: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Đây không phải một lời nói mang tính khẩu hiệu, mà là sự cô đọng mục tiêu chính trị và nhân văn xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Hồ Chủ tịch còn đưa ra một luận điểm có sức khái quát lớn là: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập không phải là đích đến cuối cùng. Độc lập phải mở ra tự do, tự do phải đem lại điều kiện để con người sống có phẩm giá và mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng là đem lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân.
Chính từ nhận thức ấy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong muôn vàn khó khăn của một đất nước vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định những nhiệm vụ cấp bách, đó là chống giặc đói, chống giặc dốt, xây dựng thể chế dân chủ, chuẩn bị tổng tuyển cử và chăm lo đời sống nhân dân.
Từ lời thề giữ nước đến sự nghiệp dựng nước
Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn tám thập kỷ qua là quá trình Đảng ta không ngừng vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do trong những điều kiện cụ thể. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được đặt ở vị trí tối thượng.
Năm 1966, trước cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước với câu nói đã trở thành chân lý hành động: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Cột cờ Hà Nội, biểu tượng thiêng liêng của độc lập, tự do và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, bảo vệ độc lập, tự do không chỉ là cầm súng bảo vệ từng tấc đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Trong một thế giới liên kết sâu rộng, độc lập còn được thể hiện ở năng lực tự chủ về kinh tế, khoa học và công nghệ, ở khả năng làm chủ những nguồn lực chiến lược, ở bản lĩnh giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc trong hội nhập, ở sức mạnh nội sinh của nền kinh tế, văn hóa và con người Việt Nam.

Trong kỷ nguyên độc lập, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, tạo nền tảng vững chắc để phát triển nhanh và bền vững (ảnh minh họa).
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, Đảng xác định phải xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.
Đây là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, điều kiện mà độc lập không có nghĩa là khép cửa, tự chủ không có nghĩa là biệt lập. Một Việt Nam độc lập, tự chủ phải là một Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác bình đẳng với các quốc gia, nhưng luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu.
Cùng với đó, quyền con người, quyền công dân ngày càng được thể chế hóa trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 dành Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tại Điều 14 đã khẳng định các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Cùng với cả nước, Thái Nguyên đang vươn lên mạnh mẽ, phát huy thế mạnh công nghiệp, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Trong bức tranh chung của cả nước, Thái Nguyên vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do trên cơ sở phát huy sức mạnh nội sinh, xây dựng địa phương giàu có, phồn thịnh, để mỗi người dân thực sự được hưởng thành quả của phát triển.
Sau khi Thái Nguyên và Bắc Kạn hợp nhất, tỉnh Thái Nguyên mới bước vào một không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời đứng trước yêu cầu cao hơn về quản trị, liên kết vùng, khai thác nguồn lực và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định mục tiêu xây dựng tỉnh phát triển nhanh, bền vững; trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 và phấn đấu trở thành tỉnh phát triển có thu nhập cao trước năm 2045.
Đó cũng là một cách cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. Bởi một địa phương muốn tự chủ và phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào lợi thế sẵn có. Phải xây dựng năng lực nội sinh từ con người, khoa học, công nghệ, hạ tầng, văn hóa, thể chế và sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp.
Những kết quả bước đầu của năm 2026 cho thấy quyết tâm ấy. Tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,01%, đưa Thái Nguyên vào nhóm 10 địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Riêng trong quý II, tỉnh nằm trong nhóm 3 địa phương đạt mức tăng trưởng cao nhất. Mục tiêu đặt ra của tỉnh là đạt mức tăng trưởng cao trong năm 2026 và triển khai các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nhưng phát triển nhanh mới chỉ là một mặt của vấn đề. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thước đo cuối cùng vẫn phải là đời sống nhân dân. Vì vậy, cùng với thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng, Thái Nguyên cần đặc biệt quan tâm đến tạo việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, chăm lo đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và đời sống văn hóa.
Một Thái Nguyên phát triển không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng, mà còn bằng nụ cười của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm và thu nhập của người lao động, bằng sự bình yên của mỗi bản làng, khu phố, bằng niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền.
Giữ vững giá trị trong thế giới biến động
Thế giới hôm nay đang chuyển động nhanh chưa từng có. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, những biến động của kinh tế toàn cầu đặt ra những thách thức mới đối với mọi quốc gia. Trong bối cảnh ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập và tự do càng cho thấy giá trị trường tồn.
“Độc lập” hôm nay phải được hiểu đầy đủ hơn, đó là độc lập về chính trị, chủ quyền quốc gia, nhưng đồng thời phải có nền kinh tế đủ sức chống chịu, khoa học, công nghệ đủ năng lực làm chủ, văn hóa đủ sức tạo nên bản lĩnh dân tộc và con người đủ trí tuệ, bản lĩnh để làm chủ tương lai.
“Tự do” cũng không chỉ là quyền được sống trong một quốc gia độc lập. Đó còn là quyền được học tập, lao động, sáng tạo, cống hiến, quyền được sống trong một xã hội công bằng, kỷ cương, an toàn, quyền được thụ hưởng những thành quả của phát triển. Và vì thế, con đường bảo vệ độc lập, tự do trong hôm nay không tách rời con đường xây dựng đất nước giàu mạnh.
Từ mùa Thu năm 1945 đến mùa Thu hôm nay, lời thề giữ vững độc lập, tự do vẫn là một lời thề thiêng liêng. Nhưng để lời thề ấy được tiếp nối trong tương lai, mỗi thế hệ phải làm phần việc của mình, đó là giữ vững chủ quyền quốc gia, củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao sức mạnh nội sinh của nền kinh tế, bảo vệ nền tảng văn hóa và chăm lo tốt hơn đời sống nhân dân.
Đó cũng là cách thiết thực nhất để chúng ta tiếp tục thực hiện điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn: nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dân tộc hoàn toàn tự do và nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Độc lập là quyền thiêng liêng. Tự do là giá trị cao quý. Hạnh phúc của nhân dân là đích đến. Ba giá trị ấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tách rời nhau mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất - ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hôm nay và mai sau.
