Như bao buổi sáng thường nhật, chiếc ngựa sắt già lại dẫn lối, đưa tôi về qua ngã tư cầu Gia Bảy. Nhưng hôm nay, con đường thông qua cây cầu cũ đã bị chặn lại bởi những tấm bình phong dựng tạm. Tôi dừng xe bên đường, tiến vào phía sau tấm chắn xanh xám và lạnh lùng ấy. Một cảm giác tiếc nuối xâm chiếm khi biết rằng, dự án phát triển hạ tầng tại đây đã bắt đầu. Nhìn cây cầu già nua như một người bạn thân thuộc của bao thế hệ đang lặng lẽ soi bóng xuống dòng sông trong vắt, tim tôi bỗng thắt lại. Từng nhịp cầu khẽ rung khi chiếc máy xúc đang tiến gần khiến tôi có cảm giác như nó đang thổn thức. Có điều gì đó xót xa như thể cây cầu cũng biết soi mình lần cuối, cũng biết đây là những giờ khắc cuối cùng của một kiếp đời oai hùng và bền bỉ qua mấy thế kỷ nắng mưa.

Cầu Gia Bảy những năm 1920.
Tôi đứng đó bất động, đôi mắt cố xuyên qua lớp rào chắn vô hồn kia để thu vào tầm mắt từng mảng bê tông vỡ đang dần rời khỏi thân cầu. Lòng tôi bỗng chùng xuống, một nỗi buồn mơ hồ lan tỏa, một sự mất mát vô hình mà không thể gọi tên. Không phải là nỗi đau mà sao lại khiến tôi buồn đến tê tái, tựa như khi ta tiễn biệt một người thân mà chưa kịp nói lời tạ từ. Ngày mai, tại đây, một cây cầu mới hiện đại hơn, vững chãi hơn sẽ mọc lên nhưng mảng ký ức nhuốm màu thời gian nơi nhịp cầu xưa cũ này, có lẽ từ nay sẽ chỉ còn nằm trong niềm thương nhớ khôn nguôi.
Đành rằng quy luật của thời gian cái cũ mòn, hỏng hóc tất yếu phải nhường chỗ cho cái mới, cho sự sống đang vươn mình lên kỷ nguyên mới của thành phố, muốn có diện mạo hiện đại thì phải thay đổi. Tôi hiểu, Thái Nguyên hôm nay không thể cứ mãi mang dáng dấp của những năm tháng nhọc nhằn, thiếu thốn. Nhưng hiểu là một chuyện, còn cảm nhận lại là một lẽ khác. Với tôi, cầu Gia Bảy không chỉ đơn thuần là một công trình giao thông bằng bê tông cốt thép. Nó là chứng nhân của lịch sử, là con đường mưu sinh tôi đã miệt mài qua lại bốn buổi mỗi ngày, và hơn hết, nó là điểm tựa cho đôi vai gánh hàng rong của tôi mỗi khi chao đảo trước sóng gió cuộc đời…
Ngày tôi rời phố về làm dâu bên kia sông Cầu, huyết mạch nối liền đôi bờ trong tôi chính là cây cầu Gia Bảy. Lúc ấy tôi còn trẻ, tâm hồn đầy rẫy những xốn xang và sự lạ lẫm của phận làm dâu. Cây cầu khi ấy trong mắt tôi cũng chỉ là một đoạn đường bình thường như bao đoạn đường khác mình từng đặt chân qua. Sáng đi, chiều về, ngày này qua tháng nọ, tôi thản nhiên bước trên mặt cầu, lướt qua những lan can và những tiếng xe cộ của dòng người xuôi ngược. Mọi thứ quá đỗi quen thuộc đến mức tôi tưởng nó sẽ chẳng để lại một dấu ấn nào trong tâm thức.
Cho đến một hôm, tôi chợt nhận ra một điều kỳ lạ: trong làng có nhiều gia đình làm đám giỗ vào cùng một ngày. Ban đầu, tôi đơn thuần nghĩ đó là sự trùng lặp ngẫu nhiên của số phận. Nhưng năm sau cũng vậy, năm sau nữa vẫn thế. Sự tò mò thôi thúc tôi tìm đến các cụ cao niên trong làng để hỏi cho ra lẽ.
Nghe tôi hỏi, các cụ bỗng lặng đi, khiến tôi sợ sệt nhận ra mình vừa vô tình chạm vào một vết thương sâu kín vừa lên da non. Sau một hồi hồi tưởng, một cụ già mới chậm rãi kể về ngày 17 tháng 10 năm 1965, cái ngày mà bầu trời Thái Nguyên bị xé toạc bởi tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Hóa ra, cây cầu tôi vẫn đi qua hằng ngày từng là tiêu điểm của những trận oanh kích dữ dội. Khi ấy, Gia Bảy là tuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong tỉnh, là "yết hầu" vận chuyển lương thực, khí tài phục vụ tiền tuyến. Máy bay Mỹ lồng lộn đánh phá khu vực này hòng chặt đứt mạch máu giao thông của ta. Trận bom năm 1965 ấy là trận đánh khốc liệt nhất.
Các cụ kể, sáng hôm ấy trời vẫn trong xanh vời vợi. Người thồ rau qua cầu sang chợ sớm, người lái thuyền thả lưới trên sông, nhịp sống vẫn bình thản như cuộc đời vốn thế. Rồi đột ngột, tiếng còi báo động vang lên. Máy bay từ phía xa lao tới như đàn diều hâu hung tợn. Những loạt bom trút xuống hối hả, mặt đất rung chuyển, khói bụi mù trời… Trận bom ấy đã làm cầu hư hỏng nặng nề, và đau đớn hơn cả là sự ra đi vĩnh viễn của 147 người dân, trong đó có 15 chiến sĩ trong đội tự vệ. Làng tôi mất đi nhiều người con trong khoảnh khắc định mệnh đó. Vì thế, suốt bao năm qua, cứ đến ngày 17 tháng 10, khói hương lại nghi ngút bay lên từ nhiều gian nhà trong làng… Nghe xong câu chuyện, tôi bỗng thấy cây cầu trước mặt mình mang một tầm vóc khác hẳn. Nó không còn là lối đi vô tri nữa, mà như chứa đựng một dòng lịch sử nặng trĩu. Những vết chắp vá, những đoạn nối hiện rõ trên thân cầu sau chiến tranh tựa như những vết sẹo mới liền da, minh chứng cho một thời kỳ quật cường, đứng vững giữa mưa bom bão đạn và sự tàn phá của thiên tai.
Chiến tranh đi qua, cầu Gia Bảy lại lặng lẽ làm tròn sứ mệnh của mình trong thời hậu chiến đầy gian khó. Người ta vẫn qua cầu hằng ngày. Cuộc sống cứ thế diễn ra, chậm rãi và bền bỉ như chính nhịp thở của thời gian. Đến năm 1991, cầu Gia Bảy được xây dựng lại bằng bê tông cốt thép. Cây cầu mới có chiều dài khiêm tốn 99,86m, với kết cấu giản đơn: ba nhịp dầm vững chãi nối liền hai bờ sông.
Với tôi bấy giờ, cây cầu không còn là một đoạn đường bình thường như trước đó từng nghĩ nữa, nó đã trở thành một phần máu thịt, một chứng nhân lặng lẽ, một dấu mốc in hằn những năm tháng nhọc nhằn mà kiêu hãnh. Mỗi nhịp cầu như còn giữ lại dấu chân của bao người, trong đó có cả mồ hôi, nước mắt và những ước mơ đơn sơ của tôi. Suốt nhiều năm ròng, mỗi ngày bốn lượt, tôi quảy gánh hàng rong đi qua cây cầu ấy. Sáng sớm tinh mơ, khi màn sương còn giăng mắc hư ảo trên mặt sông, tôi đã ra ruộng chặt rau để kịp phiên chợ sớm. Trưa, mặt trời vừa nghiêng bóng, tôi lại chuẩn bị gánh quà rong. Mùa nào thức nấy, đôi quang gánh kẽo kẹt theo từng nhịp chân, tiếng tre cọ vào nhau lặp đi lặp lại một điệp khúc, nghe thân thuộc như câu hát tôi đã lẩm nhẩm nhiều lần: “Đời tôi như những con thoi…”
Hình như cầu Gia Bảy cứ lặng lẽ chứng kiến tất cả. Nó thấy tôi gầy đi theo năm tháng, thấy đôi vai tôi ngày càng trĩu xuống vì gánh nặng cơm áo gạo tiền. Nó cũng là nơi duy nhất lưu giữ những giấc mơ giản dị mà tôi gửi gắm vào hư không: mong sao ngày nào cũng bán hết hàng, mong cho con cái đủ ăn, đủ mặc và mong ngày mai, đời bớt gieo neo hơn trước.

Cầu Gia Bảy đang thi công.
Kỷ niệm nhớ đời nhất của tôi là ngày hôm ấy. Một ngày tưởng như có thần tài gõ cửa. Cả đêm ngủ không đẫy giấc vì thời tiết oi nồng, trời chưa sáng tôi đã gánh rau sang chợ thành phố, may mắn gặp anh bộ đội cân hết rau về cho đơn vị, thấy rau cải bắp của tôi vừa chắc cây lại không ngâm nước, anh bảo tôi về chặt thêm cho anh một gánh. Chẳng kịp ăn gì lót dạ, tôi quày quả qua đò Bến Tượng, lội tắt mấy cái ruộng là đến bãi rau. Gần đến trưa thì tôi cũng cân được cho anh bộ đội hơn tạ rau cải bắp. Cầm nắm tiền trong tay do mồ hôi công sức của mình làm ra mà tôi mừng cứ như vừa trúng số, tôi liền rẽ vào chợ mua cho các con vài lạng thịt, rồi vội vàng ra về cho kịp bữa trưa. Đôi quang gánh trên vai nhẹ tễnh, mà chân tôi lại nặng như đeo đá, run lên bần bật vì đói và kiệt sức. Đến giữa cầu, trời đất bỗng chao đảo, quay cuồng, mặt cầu nghiêng ngả như muốn hất văng tôi xuống dòng nước phía dưới. Trong cơn choáng váng ấy, bàn tay tôi quờ quạng, bám được vào lan can. Cái thô ráp của xi măng, cái bỏng rát của nắng trưa dồn cả vào lòng bàn tay, giữ vững tôi giữa ranh giới bấp bênh…
Thời gian là dòng chảy không ngừng nghỉ. Thành phố Thái Nguyên ngày một thay da đổi thịt. Những đại lộ thênh thang mở ra, Bến Tượng đã có cây cầu mới cao hơn, hiện đại hơn, sáng đèn lộng lẫy suốt đêm thâu. Còn cầu Gia Bảy vừa nhỏ bé vừa cũ kỹ, lại phải trải qua trận lũ năm 2025 nên lùi vào ký ức là lẽ đương nhiên.
Giờ đây, đứng bên bờ sông, nhìn chiếc máy xúc đang bổ từng nhát xuống mặt cầu, tôi mới thấm thía thế nào là sự ly biệt của những vật vô tri có tâm hồn. Tôi áp sát vào thành cầu, vội vàng thì thầm như sợ không kịp nói lời biệt ly: “nghỉ ngơi nhé, bác cầu già, người gác đường tận tụy. Cảm ơn vì đã gánh vác bao nhiêu trọng trách, bao nhiêu buồn vui của chúng tôi”. Đáp lại lời tôi, từ chiếc máy xúc vang lên một tiếng gầm rú, từ khối bê tông đổ vỡ, một đám bụi bay lên cao, nhẹ như tiếng thở phào sau cùng của một kiếp đời đã hoàn thành sứ mệnh.
Bàn tay tôi vuốt nhẹ lên lan can lần cuối rồi tôi quay lưng, lang thang trên con phố vốn sầm uất mà nay hàng quán vắng lặng khách qua lại. Gặp em Tăng Thị Hồng, sinh năm 1972 ở tổ dân phố Gia Bảy, phường Đồng Bẩm (nay là phường Linh Sơn) đang ngồi ưu tư ngoài hiên nhà, tôi lại gần bắt chuyện: "Cuối năm có cầu mới rồi, phố mình sẽ đẹp lắm em nhỉ?". Hồng khẽ gật đầu, nhưng đôi mắt thoáng buồn: "Cầu mới thì mừng, nhưng những kỷ niệm gắn chặt bao đời và cả tuổi thơ của bọn em từ nay sẽ nhường chỗ cho nhịp sống của các thế hệ tương lai. Nghĩ cũng thấy nôn nao, bâng khuâng lạ lùng chị ạ".
Bà Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1953 một người dân của xóm Đồng Tâm, cũng không giấu nổi vẻ xúc động: "Cây cầu này đã thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của biết bao người dân nơi đây. Dẫu biết xây dựng cầu mới sẽ to đẹp hơn, không lâu nữa, nơi đây sẽ nhộn nhịp gấp trăm lần phố cũ nhưng trong lòng vẫn cứ thấy hụt hẫng khó tả. Bởi ký ức một thời gian khó, đau đáu làm sao có thể dễ quên...".

Cầu Gia Bảy đẹp nên thơ khi mùa lau, sậy về. Ảnh: Đào Tuấn
Vâng đúng vậy! Sự trống trải ấy không chỉ là của riêng ai. Đó là cảm giác khi một điều quá đỗi quen thuộc, như hơi thở, như máu thịt, bỗng dưng không còn hiện hữu. Đối diện với cây cầu cũ sắp rời đi, tôi tự dằn lòng mình lắng lại, để rồi vài phút sau một sự thanh thản kỳ lạ đã trỗi lên mãnh liệt. Sự đổi thay là quy luật tất yếu. Cầu Gia Bảy mới sẽ mọc lên, mang theo khát vọng và nhịp sống của một Thái Nguyên đang từng ngày thay da đổi thịt. Tôi không níu giữ quá khứ để từ khước tương lai, nhưng tôi xin được đứng đây thêm một chút nữa thôi, để tiễn đưa một phần đời mình đi cho trọn vẹn.
Rồi không lâu nữa, đến ngày công trình hoàn thành, tôi sẽ lại đến chính nơi đây, để ngắm nhìn diện mạo mới lộng lẫy của thành phố. Lúc ấy, lòng tôi sẽ hân hoan và tôi sẽ kể cho con cháu nghe rằng, ngay tại nơi này, từng có một cây cầu già nua, không đẹp lộng lẫy, không rộng thênh thang nhưng đã gánh vác cả lịch sử và nâng đỡ bao kiếp người. Từ trong sâu thẳm, tôi chưa bao giờ nghĩ nó là chuyện của quá khứ. Nó vẫn sống động như lần đầu tôi bám vào lan can để khỏi ngã, vẫn hiền như giấc mơ bé nhỏ của tôi và vẫn thiêng liêng như những đám giỗ chung ngày của nhiều nhà trong làng, dù hình hài có tan vào mây khói thời gian.
