Kiểm soát nước thải để phát triển công nghiệp bền vững

 Ngọc Quang Ngọc Quang

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, lượng nước thải từ các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày càng gia tăng. Hạ tầng xử lý tập trung và hệ thống quan trắc tự động từng bước được đầu tư, góp phần kiểm soát nước thải trước khi xả ra môi trường. Tuy nhiên, sản xuất và không gian công nghiệp tiếp tục mở rộng đang tạo thêm áp lực đối với công tác thu gom, xử lý, giám sát nước thải, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường.

Hệ thống xử lý nước thải của Công ty CP Giấy Hoàng Văn Thụ được đầu tư nhằm xử lý nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường.

Hệ thống xử lý nước thải của Công ty CP Giấy Hoàng Văn Thụ được đầu tư nhằm xử lý nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường.

Áp lực ngày càng lớn từ nước thải công nghiệp

Thái Nguyên đang chuyển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giai đoạn 2021-2025, công nghiệp tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 6,15%/năm. Riêng năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt khoảng 1.057,9 nghìn tỷ đồng; khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 92%.

Sự hiện diện của các ngành điện tử, cơ khí, luyện kim, vật liệu xây dựng, chế biến, chế tạo cùng quá trình mở rộng các khu, cụm công nghiệp đã tạo thêm việc làm, nguồn thu ngân sách và giá trị xuất khẩu. Cùng với đó, áp lực đối với môi trường, đặc biệt là nước thải công nghiệp, ngày càng gia tăng.

Theo Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 9/2/2026 của UBND tỉnh, phương án phát triển khu công nghiệp, khu công nghệ thông tin tập trung được điều chỉnh từ 20 lên 38 khu, với tổng diện tích hơn 14.155ha; số lượng cụm công nghiệp cũng tăng từ 68 lên 74 cụm, tổng diện tích khoảng 4.069ha.

Quy mô sản xuất càng mở rộng, nhu cầu sử dụng nước và lượng nước thải phát sinh càng lớn. Thống kê sơ bộ cho thấy, tại một số khu, cụm công nghiệp đang hoạt động, tổng lượng nước thải phát sinh thực tế khoảng 39.270-39.490m3/ngày đêm. Đáng chú ý, riêng Khu công nghiệp Yên Bình phát sinh khoảng 35.125m3/ngày đêm, chiếm phần lớn tổng lượng nước thải được thống kê. Khu công nghiệp Điềm Thụy - khu A phát sinh khoảng 2.947m3/ngày đêm; Khu công nghiệp Sông Công I từ 400-600m3/ngày đêm. Các khu, cụm công nghiệp còn lại có lượng phát sinh thấp hơn nhưng cộng lại vẫn tạo áp lực đáng kể đối với hệ thống xử lý và nguồn tiếp nhận.

Nếu nước thải không được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sẽ rất lớn. Theo số liệu tính toán o, với đặc trưng nồng độ các chất ô nhiễm, lượng BOD5 trong nước thải công nghiệp chưa qua xử lý có thể lên tới khoảng 2.488-8.885kg/ngày đêm; COD khoảng 4.897-18.442kg/ngày đêm. Lượng nitrat và photphat cũng ở mức đáng kể.

Những con số này cho thấy yêu cầu đối với nước thải công nghiệp phải được đặt trong tổng thể quản lý phát triển khu, cụm công nghiệp. Việc đầu tư công trình xử lý cần gắn với kiểm soát nguồn phát sinh, thu gom, quan trắc và giám sát quá trình xả thải.

Năng lực xử lý cần theo kịp quy mô sản xuất

Thái Nguyên đã có nhiều nỗ lực đầu tư hạ tầng xử lý nước thải tại các khu, cụm công nghiệp. Tại các khu công nghiệp lớn như Yên Bình, Điềm Thụy - khu A, Sông Công I, Sông Công II và Thanh Bình - giai đoạn 1 đã có hệ thống xử lý nước thải. Nhiều khu đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục và truyền dữ liệu về cơ quan quản lý theo quy định.

Hệ thống xử lý nước thải được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp quan tâm đầu tư, góp phần kiểm soát nguồn thải và bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất.

Hệ thống xử lý nước thải được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp quan tâm đầu tư, góp phần kiểm soát nguồn thải và bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất.

Khu công nghiệp Yên Bình hiện có công suất thiết kế hệ thống xử lý nước thải lên tới 80.000m3/ngày đêm, cao hơn nhiều so với lượng nước thải thực tế phát sinh. Khu công nghiệp Điềm Thụy - khu A có công suất khoảng 3.000m3/ngày đêm, cơ bản đáp ứng lượng nước thải phát sinh. Khu công nghiệp Sông Công I có công suất thiết kế 2.000m3/ngày đêm; Khu công nghiệp Thanh Bình - giai đoạn 1 là 2.500m3/ngày đêm. Các hệ thống này tạo điều kiện kiểm soát nước thải ngay từ nguồn, hạn chế nguy cơ xả thải trực tiếp ra môi trường. Tuy nhiên, năng lực xử lý tại các cụm công nghiệp chưa đồng đều.

Theo báo cáo, đến hết năm 2025, tỉnh có 16 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động. Phần lớn đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc các dự án thứ cấp đầu tư công trình xử lý riêng. Song vẫn còn những cụm công nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý tập trung.

Tại một số cụm công nghiệp, dù hạ tầng xử lý tập trung chưa hoàn thiện, các cơ sở thứ cấp đã phải tự đầu tư công trình xử lý nước thải để đáp ứng yêu cầu xả thải. Giải pháp này có thể đáp ứng yêu cầu trước mắt, song về lâu dài cần được xem xét trong tổng thể hạ tầng môi trường của từng cụm công nghiệp, nhất là khi quy mô sản xuất tiếp tục tăng.

Bên cạnh đó, một số khu, cụm công nghiệp mới phát sinh ít hoặc chưa phát sinh nước thải sản xuất nhưng đã đặt ra yêu cầu chuẩn bị hạ tầng xử lý khi sản xuất mở rộng. Đây là vấn đề cần được tính toán từ khâu quy hoạch, đầu tư hạ tầng, tránh tình trạng sản xuất đi trước, hạ tầng môi trường theo sau.

Kiểm soát từ nguồn, giám sát bằng dữ liệu

Quản lý nước thải công nghiệp cần bắt đầu từ quá trình lựa chọn, thu hút dự án đầu tư. Những dự án có nguy cơ phát sinh lượng nước thải lớn, chứa nhiều thành phần ô nhiễm cần được đánh giá kỹ về công nghệ, nhu cầu sử dụng nước, lưu lượng và tính chất nước thải trước khi quyết định đầu tư. Hạ tầng xử lý cũng phải được tính toán phù hợp với tiến độ thu hút, lấp đầy khu, cụm công nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp đi vào hoạt động rồi mới bổ sung phương án thu gom, xử lý.

Kiểm soát nước thải công nghiệp là yêu cầu quan trọng đối với tỉnh trong quá trình phát triển công nghiệp theo hướng bền vững.

Kiểm soát nước thải công nghiệp là yêu cầu quan trọng đối với tỉnh trong quá trình phát triển công nghiệp theo hướng bền vững.

Sự phối hợp giữa chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp cần được tăng cường. Do đặc tính nước thải của mỗi cơ sở sản xuất khác nhau, việc kiểm soát từ nguồn có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả xử lý chung. Cần tăng cường kiểm tra việc đấu nối của từng doanh nghiệp vào hệ thống xử lý tập trung, kiểm soát lưu lượng, thành phần nước thải đầu vào và xử lý nghiêm các trường hợp xả thải không đạt quy chuẩn hoặc ngoài hệ thống.

Quan trắc tự động cần tiếp tục được phát huy, gắn với khai thác, phân tích và cảnh báo kịp thời. Việc truyền dữ liệu liên tục về cơ quan quản lý tạo điều kiện chuyển từ phương thức kiểm tra định kỳ sang giám sát thường xuyên, phát hiện sớm các thông số bất thường. Vì vậy, cần tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý môi trường, ban quản lý khu công nghiệp và chủ đầu tư hạ tầng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm xử lý khi thông số vượt ngưỡng.

Cùng với kiểm soát nguồn phát sinh, cần rà soát tổng thể năng lực thu gom, xử lý của các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và khả năng đáp ứng khi tỷ lệ lấp đầy tăng. Những nơi chưa có hệ thống xử lý tập trung cần có lộ trình cụ thể; những hệ thống đã đầu tư nhưng chưa vận hành hoặc chưa khai thác hết công suất cần được kiểm tra, đánh giá để sử dụng phù hợp với nhu cầu. Tại các khu vực có lưu lượng nước thải lớn, cần tính toán khả năng tiếp nhận của nguồn nước, gắn yêu cầu xử lý đạt quy chuẩn với bảo đảm chất lượng nguồn tiếp nhận và sức chịu tải của sông, suối.

Nhà máy xử lý nước thải Khu công nghiệp Điềm Thụy đảm bảo xử lý cơ bản lượng nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Nhà máy xử lý nước thải Khu công nghiệp Điềm Thụy đảm bảo xử lý cơ bản lượng nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Đối với các làng nghề, lượng nước thải phân tán và quy mô nhỏ hơn khu, cụm công nghiệp nhưng vẫn cần được quản lý phù hợp. Đến hết năm 2025, Thái Nguyên có 287 làng nghề được công nhận. Phần lớn các cơ sở chế biến thực phẩm, sản xuất tại làng nghề đang xử lý nước thải bằng công trình tại chỗ. Khi sản xuất phát triển, cần tiếp tục hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ các cơ sở nâng cao hiệu quả xử lý, nhất là tại những khu vực có mật độ sản xuất cao.

Thái Nguyên đang có cơ hội tiếp tục thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, mở rộng không gian phát triển khu, cụm công nghiệp và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Quy mô công nghiệp càng lớn, yêu cầu về hạ tầng môi trường và kiểm soát ô nhiễm càng cao. Vì vậy, xử lý nước thải cần được tính toán đồng bộ với đất đai, giao thông, điện, nước và các hạ tầng thiết yếu ngay từ quy hoạch, đầu tư đến vận hành.

Phát triển công nghiệp xanh cần được nhìn nhận từ toàn bộ vòng đời của nguồn nước, từ sử dụng, thu gom, xử lý đến tái sử dụng và xả thải an toàn. Thái Nguyên cần chuyển từ tư duy “xử lý khi có ô nhiễm” sang “phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm ngay từ đầu”. Đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải là một phần của đầu tư cho chất lượng tăng trưởng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì khả năng phát triển lâu dài của tỉnh.

Một Thái Nguyên công nghiệp hiện đại cần được nhìn nhận từ cả quy mô phát triển và chất lượng môi trường. Khi công nghiệp tiếp tục mở rộng, kiểm soát nước thải phải trở thành yêu cầu xuyên suốt từ quy hoạch, thu hút đầu tư đến tổ chức sản xuất và quản lý xả thải. Chủ động phòng ngừa, xử lý hiệu quả và bảo vệ nguồn nước chính là cách bảo đảm tăng trưởng đi cùng chất lượng sống, tạo dư địa cho Thái Nguyên phát triển ổn định, bền vững trong chặng đường dài.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bình luận