Kiến tạo giá trị mới cho chè Thái

Phương  Thảo Phương Thảo

Có những đổi thay lớn bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Với chè Thái Nguyên, đó có thể là khi người nông dân cúi xuống một nắm đất, nhận ra đất đã bạc màu sau nhiều năm canh tác và quyết định phải làm khác đi. Từ thay đổi trên từng nương chè đến sản xuất an toàn, hữu cơ; từ chính sách hỗ trợ đến khoa học công nghệ, chế biến và thị trường, Thái Nguyên đang tạo dựng một hướng đi mới cho cây chè - cây trồng đã làm nên danh tiếng của vùng đất này.

Các ngành chuyên môn hỗ trợ nông dân xây dựng, nhân rộng mô hình  chè hữu cơ, từng bước chuyển đổi phương thức canh tác, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm chè.

Các ngành chuyên môn hỗ trợ nông dân xây dựng, nhân rộng mô hình chè hữu cơ, từng bước chuyển đổi phương thức canh tác, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm chè.

Trên nương chè ở xóm Phúc Thuần, xã Đại Phúc, điều ông Long Văn Nguyện quan tâm lúc này là lớp đất dưới những gốc chè. Bao năm canh tác theo kinh nghiệm, chè vẫn cho thu hái nhưng đất dần chai cứng, bạc màu, rong rêu xuất hiện, cây sinh trưởng kém hơn. Ông nhận ra muốn gắn bó lâu dài với cây chè thì trước hết phải giữ được sức sống cho đất.

Tham gia mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học, hướng tới sản xuất hữu cơ, ông Nguyện thay đổi từ bón phân, chăm sóc đến phòng trừ sâu bệnh theo quy trình kỹ thuật. Sau một thời gian, lớp đất dưới gốc chè đã tơi hơn. Với người trồng chè, thay đổi ấy mở ra hy vọng về một cách làm bền vững hơn. Điều ông mong muốn giờ đây là làm ra sản phẩm sạch hơn, tốt hơn và bán được bằng chính chất lượng của nó.

Câu chuyện ở Phúc Thuần phản ánh sự chuyển động trên những vùng chè Thái Nguyên. Nếu trước đây người làm chè thường nói nhiều về năng suất, sản lượng thì hôm nay, VietGAP, hữu cơ, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, liên kết chuỗi, chế biến sâu đang trở thành những yêu cầu mới. Toàn tỉnh hiện có hơn 22.177ha chè; năm 2025, sản lượng chè búp tươi đạt 275.725 tấn, giá trị sản phẩm trà trên 14,8 nghìn tỷ đồng. Với quy mô ấy, dư địa phát triển không còn chủ yếu nằm ở mở rộng diện tích mà ở nâng giá trị sản phẩm.

Nhãn hiệu “Chè Thái Nguyên” được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu. Nhưng danh tiếng của sản phẩm không mặc nhiên bảo đảm cho tương lai. Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, phương thức canh tác và khả năng truy xuất, chè Thái Nguyên vừa phải giữ hương vị làm nên tên tuổi, vừa xây dựng những chuẩn mực mới cho thương hiệu.

Cán bộ kỹ thuật Trung tâm khuyến nông và Môi trường hướng dẫn nông dân quy trình kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ.

Cán bộ kỹ thuật Trung tâm khuyến nông và Môi trường hướng dẫn nông dân quy trình kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ.

Toàn tỉnh hiện có 132 mã số vùng trồng chè với 1.121,9ha; 6.662ha được chứng nhận GAP, hữu cơ, chiếm khoảng 30% diện tích; 203 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3-5 sao, trong đó 6 sản phẩm đạt 5 sao. Phía sau những con số ấy là sự thay đổi cách làm của hàng nghìn hộ dân, bởi chất lượng sản phẩm phải được tạo dựng ngay từ vùng nguyên liệu.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi không dễ. Người nông dân phải thay đổi thói quen canh tác, tuân thủ quy trình khắt khe hơn và đầu tư thêm công sức. Nếu chè sạch không bán được giá tốt hơn, sản xuất hữu cơ thiếu chứng nhận, sản phẩm tốt nhưng khó tìm thị trường thì sự thay đổi khó bền vững. Vì vậy, người trồng chè không thể đi một mình.

Nghị quyết số 11 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030 cùng các chính sách hỗ trợ đang tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi. Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã làm việc với 37 xã, phường có diện tích chè lớn để tháo gỡ khó khăn. Đến hết năm, tỉnh đặt mục tiêu trên 40% diện tích chè được chứng nhận GAP, hữu cơ; 22% diện tích được cấp mã số vùng trồng và 205 sản phẩm trà đạt OCOP từ 3-5 sao. Đó là hướng chuyển từ mở rộng quy mô sang chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng chất lượng và gia tăng giá trị.

Từ nương chè, hành trình tạo giá trị còn đi qua hợp tác xã, doanh nghiệp, chế biến và thị trường. Dư địa của chè Thái Nguyên không chỉ nằm ở những gói chè khô mà còn ở chế biến sâu, thương mại điện tử, không gian thưởng trà và du lịch trải nghiệm. Khi du khách bước giữa nương chè, tự tay hái búp, xem người dân sao chè rồi thưởng thức chén trà giữa màu xanh trung du, sản phẩm họ mang về còn gắn với câu chuyện về vùng đất và văn hóa trà Thái Nguyên.

Thái Nguyên đã có một tài sản quý là thương hiệu chè. Điều cần vun đắp trong những năm tới là giá trị mới trên nền thương hiệu ấy. Để chè Thái Nguyên không chỉ được nhớ bởi danh tiếng lâu đời mà còn bởi giá trị của một ngành hàng hiện đại, xanh và bền vững.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bình luận