Những mùa thu xanh

Cẩm Anh

Tiết trời vào thu. Nắng hong nhẹ trên mái nhà, vòm cây và những con đường còn vương hơi ẩm. Mây trắng lơ lửng trên nền trời xanh. Một mùa thu bình yên như bao mùa thu đã đi qua giữa mênh mông thời gian. Tôi nhớ một mùa thu đã xa, mùa thu hơn nửa thế kỷ trước, nhưng âm vang của nó vẫn còn trong câu chuyện gia đình, trong tấm ảnh cũ, và trong ký ức của những người ở lại.

Những mùa thu xanh

 

Chú tôi hy sinh năm 1972, khi vừa tròn hai mươi tuổi.

Nếu còn sống, mùa thu năm nay chú sẽ hơn bảy mươi tuổi. Chú sẽ có một mái tóc bạc, một khuôn mặt nhiều nếp nhăn. Và có thể, chú sẽ ngồi đâu đó trong một buổi chiều thu tháng Tám và nhấp chén trà rồi kể cho con cháu nghe về những năm tháng mình đã đi qua.

Hơn một lần trong các bài giảng của mình tôi đã xúc động nhắc đến câu thơ của Thanh Thảo, những câu thơ bi tráng của một thời hoa lửa: 

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

(Thanh Thảo)

Cùng hàng vạn sinh viên ngày đó, chú tôi cũng “xếp bút nghiên lên đường đi chinh chiến”. Bà tôi mặc chiếc quần lụa đen đã bạc màu, vắn hai bên sườn cho gọn, tay xách chiếc làn mây đã sờn, chân đi đôi dép mòn vẹt, cứ thế hớt hải chạy theo con đường hành quân. Trong làn chỉ có mấy củ khoai luộc, một nắm cơm và ít muối vừng. Có lẽ đó là tất cả những gì một người mẹ có thể gửi theo con trong buổi tiễn đưa. Bà không dặn dò được gì nhiều. Chỉ có ánh mắt chứa ngàn điều muốn nói. Người mẹ nào chẳng muốn cho con mình “một mái nhà tranh yên rủ bóng xuống tâm hồn”, nhưng khi Tổ quốc còn trong bom đạn, tình yêu của người mẹ không thể đứng ngoài vận mệnh chung ấy.

Chú tôi theo đoàn quân tiến vào Thành cổ Quảng Trị, bước vào tám mươi mốt ngày đêm chiến đấu khốc liệt.

Rất nhiều lần sau này, bà tôi kể về một giấc mơ kì lạ như sự kết nối huyền vi. Trong mơ, chú tôi đã về. Đứng ngay đầu giường. Người bê bết máu. Quân phục rách bươm. Mùi đất và thuốc súng nồng nặc. Bà run rẩy muốn lau vết máu trên trán con, mà lau mãi không sạch. Bàn tay bà đi qua thân thể con mình như đi qua làn khói mỏng.

Chú tôi đã mãi mãi không về.

Ôi! Có bao nhiêu người mẹ như bà tôi trên dải đất này! Bao nhiêu người đã tiễn con đi rồi lặng lẽ sống nốt phần đời còn lại với một khoảng trống không thể lấp đầy! Không ai thống kê được. Không ai viết hết được. Tờ giấy báo tử gửi về, mỏng nhẹ như một lời than lạc lõng giữa mênh mông đất trời. Không ngày cụ thể. Không nơi chôn cất: “Đồng chí Phạm Quang Hải đã anh dũng hy sinh, tại mặt trận phía Nam”.

Phía Nam rộng đến nhường nào! Là rừng già, là suối cạn, là bờ sông loang máu hay một cánh đồng chưa kịp xanh! Bà không khóc, cũng không thể đi tìm. Chỉ lặng lẽ gấp tờ giấy lại, cất vào chiếc hộp gỗ nhỏ đặt trang trọng trên ban thờ. Thỉnh thoảng, bà lại lấy ra, vuốt phẳng những nếp gấp, đọc đi đọc lại mấy dòng chữ đã thuộc lòng từ lâu, rồi cẩn thận gấp lại, cất vào chỗ cũ.

Có phải bà sợ một ngày nào đó tờ giấy sẽ cũ, những dòng chữ mờ nhòa. Có phải bà không muốn con mình bị lãng quên giữa trăm ngàn cái tên đã hóa thành cát bụi. Bà ước có ngày đón được con mình về quê nhà. Dù chỉ là một nắm đất. Một mảnh quân phục bết máu và bùn khô. Để con mình có một nơi nằm xuống giữa lòng quê, để khi gió nổi lên, hương khói còn biết về đâu.

Rồi bà tôi cũng đi vào cõi vô thường và mang theo nỗi niềm không thể gọi tên.

Sau này, ba tôi gửi thư về chuyên mục “Đi tìm đồng đội” trên báo Quân đội Nhân dân. Không ai trong nhà nói ra, nhưng tôi biết ông vẫn âm thầm tìm em trai suốt mấy chục năm qua, như một cách để thay mẹ gánh điều chưa trọn.

Rồi một chiều thu tháng Tám, sau bao năm chờ đợi, lá thư hồi âm cũng đến nhà. Từng chữ như in sâu vào trí nhớ tôi: Liệt sĩ Phạm Quang Hải hiện an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9, tỉnh Quảng Trị. Ba tôi lặng người. Đôi bàn tay run run như sợ chỉ một cái buông nhẹ, những dòng chữ ấy sẽ tan biến. Ông ngồi rất lâu bên hiên nhà, mắt dõi về phía bầu trời, ánh nhìn mông lung như thể đang dò tìm gương mặt em trai giữa tầng tầng kí ức. Ba tôi không khóc. Nhưng ánh mắt ông ướt. Là niềm hạnh phúc, thứ hạnh phúc run rẩy đến không dám tin vào sự thật. Sau bao năm chỉ là một tờ giấy báo tử mơ hồ, giờ ông biết rõ em mình đang nằm ở đâu, có đồng đội bên cạnh, có hương khói mỗi ngày.

Sắp xếp mọi việc chu toàn, ông gói ghém đồ đạc, mang theo tấm ảnh cũ của em, lặng lẽ đi vào Quảng Trị. Không một giọt nước mắt. Chỉ có sự bình thản của một người anh cả đang hành hương về miền đất lửa, để đón em trở về sau mấy mươi năm chia biệt. Mọi việc diễn ra như một duyên lành. Cuối cùng, chú tôi đã trở về trong sự đón đợi của quê hương. Trong thế giới rất xa, bà tôi đã có thể yên lòng.  Bởi sau cùng, đứa con mà bà từng tiễn đi nay đã trở về quê nhà, nơi có lòng mẹ bao dung, nơi có những dấu chân tuổi thơ, nơi có tình thân để giấc ngủ ngàn thu không còn cô quạnh.

Hôm nay, đứng giữa mùa thu của đất trời, tôi mang theo trong lòng niềm tự hào về gia đình mình, về chú tôi, người đã nằm xuống với tuổi hai mươi đẹp đẽ của mình. Niềm tự hào ấy không ồn ào, không được nhắc tên trong sách sử, nhưng nó sống trong mỗi bước chân tôi đi giữa phố phường, trong mỗi lần ngoảnh lại nhìn quá khứ và nhận ra: gia đình mình cũng đã góp một phần máu xương vào cuộc chiến bảo vệ non sông.

Tuổi hai mươi của chú tôi.

Và tuổi hai mươi của cả một thế hệ đã nằm lại nơi chiến trường để mùa thu hôm nay trở về trong mỗi giấc bình yên.

Những mùa thu đang băng băng qua ô cửa,

Những mùa thu đi,

Những mùa thu xanh…

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bình luận