Tôi thường ngắm mẹ mình vào những cuối tuần, khi bọn tôi tới nhà mẹ ăn những món công phu mà bà nấu. Đó là bữa cơm bà phải chuẩn bị từ vài hôm trước, khi gọi cho từng đứa con và hỏi muốn ăn gì tuần này. Cùng với cô con cả - chị gái tôi, và là bản sao hoàn hảo của mẹ - hai người đàn bà sẽ đi chợ, vật lộn với mớ nguyên liệu, nấu nướng sao cho mọi người không chỉ được ăn với nhau, mà còn gói mang về. Người vắng mặt luôn được dành phần riêng. Mẹ không ăn cùng chúng tôi, thường là vậy, bà ngồi ở một chỗ gần đó, chờ cơ thể nguội bớt mồ hôi, và canh chừng xem thức ăn trên mâm đã vơi chưa, ai sẽ cần vài quả ớt ai tấm tắc khen ngon. Thầm ngắm dáng vẻ bà khi ấy, tôi cố phân tích tình cảm của mẹ trong cách bà nhìn chúng tôi, ánh mắt hân hoan lẫn mỏi mệt, hài lòng lẫn chán nản.

Minh họa: Dương Văn Chung
Tôi tin tình cảm cha mẹ - con cái luôn phức tạp hơn những gì người ta thường nghĩ, rằng đó là mối quan hệ tràn đầy tình yêu thương,vô điều kiện, cho đi mà không cần nhận lại. Một mối quan hệ mang tính hy sinh, nhất là ở Á Đông, cha mẹ hy sinh cho con cái như là một mặc định. Nhưng mặc định là một cái bẫy, đối với nhà văn và đối với bất cứ ai. Một khi đã mặc định rồi, người ta sẽ không còn khao khát thay đổi, ít nhất là trong ý nghĩ.
“Mẹ có muốn thoát khỏi lũ con mình không, lúc nào đó?”, tôi thường tự hỏi khi nhìn mẹ vịn vách tường cho qua cơn choáng vì đã đột ngột đứng dậy đi lấy món nước chấm, đảo những con cá rán trên chảo, hay tìm khăn mặt cho đứa cháu. Ai đó muốn giúp nhưng bà nói, chỉ bà mới biết thứ gì cất ở đâu. Tôi tự hỏi bà có muốn lấy lại chiều kích vốn có của chính mình, sau khi bị chồng con chèn lấn, ép chặt? Bà có khoảnh khắc nào muốn vứt bỏ tảng đá của Sisyphus trên lưng hay bà còn không nhận ra ấy là gánh nặng?
Và khi tôi sinh đứa con đầu, tôi đã nhận ra một bà mẹ khó mà trốn thoát khỏi con mình, kể cả đứa trẻ ấy chủ động từ bỏ. Ngay cả bà mẹ nhẫn tâm bỏ rơi con mình ở bên đường, nhưng đứa bé vẫn đi theo bà ta cho đến cuối cùng. Chừng nào bà còn trí nhớ, bà sẽ không bao giờ quên sinh vật nhỏ bé co mình ủ ấm trong mớ khăn dày, kẻ mà để có cuộc gặp đầu tiên, cả bà và nó đều phải mang sẹo. Của bà mẹ sẹo ở bụng dưới, và của đứa trẻ là cái rốn.
Đây là con mình, tôi nghĩ khi mân mê những ngón tay hồng của đứa nhỏ, cho đến cuối cùng nó vẫn là con mình. Kiểu gì cũng không thay đổi được. Nếu hôn nhân chẳng suôn sẻ, tôi sẽ lấy nhiều hơn một người đàn ông làm chồng, và tôi từ vợ A thành vợ Z, theo cách gọi của người đời, nhưng tôi mãi mãi là mẹ của Tí của Tèo.
Con của tôi, nhưng lại chẳng của tôi. Nó đi bằng đôi chân nó, nghĩ bằng bộ não của chính nó, và chẳng có gì giống đứa con mà tôi từng hình dung. Tôi bảo này đừng chạy, đứa trẻ vẫn chạy, tôi bảo hãy ngồi vào bàn học, đứa trẻ lại dính mắt vào ti vi. Càng lớn phổng lên, con người kia càng xa lạ, cả thể xác lẫn tâm hồn. Nhưng tôi không bao giờ thoát được đứa trẻ đó, bất kể nó là một thực thể độc lập với mình.
Dưới ảnh hưởng của Phật giáo, người già quê tôi hay bảo rằng duyên cha mẹ với con cái kèm theo nợ của tiền kiếp, giờ tìm nhau là để trả cho nhau, hoặc kiếp này chính là một cuộc vay khác. Một thuyết khá đáng tin. Nhưng nếu tôi là người duy lý, không tin vào bất cứ gì mà mình không nhìn thấy, nghĩ rằng tiền kiếp hậu kiếp là những thứ mông lung siêu thực, tôi cũng nhận ra mối quan hệ cha mẹ với con cái có cái gì đó mất cân bằng ngay từ đầu. Luôn có thứ tình cảm gì đó như là trách nhiệm, phụ thuộc, dựa dẫm, ràng buộc lẫn trong những yêu thương.
Vậy, phải có ai đó thoát chứ, hoặc ít nhất là có ý định bỏ trốn. Tôi ngờ là mẹ tôi cả ý định, cũng không. Cả những cuối tuần tôi bảo anh chị em mình giả vờ bận để bà có thể thư giãn, nhưng thức ăn bà nấu được gửi tới cửa nhà mỗi đứa con sau đó, vẫn còn ấm nóng. Hay như người bạn tôi, chị than rằng sao chị lại cảm thấy vui mừng vì lũ con tới thăm mình, mà không phải là thất vọng.
Tìm được cơ hội bỏ trốn khỏi con vào tuổi năm mươi, chị cất một am thờ Phật trên ngọn đồi nhỏ, cách nhà hơn ba trăm cây số. Một chỗ trốn hoàn hảo, đủ xa để con cái không ghé qua dựa dẫm, chúng khó mà tới ăn nhờ bữa cơm, đưa con nhỏ sang nhờ chăm giữ, hay nhờ nấu giùm vài món nhắm rượu, nhưng cũng đủ gần để duy trì mối quan hệ mẹ - con. Chị kiên trì gây dựng một cuộc chạy trốn từ vài chục năm trước, khi bà mẹ bắt đầu nói với lũ con mình, “về sau mẹ đi sống mình riêng”. Câu đó phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nuôi giấu âm ỉ một chuyến đi tìm tự do, mỗi lần lời ra góp một chút dũng khí cho cuộc trốn chạy, và với những đứa con, là một lần cứa dao vào sợi dây bện bằng thép vốn buộc chặt người mẹ vào chúng.
Chuẩn bị cho tương lai không có mình trong đời sống của những đứa con, chị dạy chúng cách cầm máu khi đứt tay, cách rửa cá sao cho thịt thơm dai, cách giấu nỗi buồn cho đừng ai nhìn thấy, khóc một mình, đi tìm niềm vui nội tại mà chẳng cần phụ thuộc nào ai. Bằng sự nhẫn nại của một người học thiền, chị dạy chúng từng thứ một, và lũ con vô tình không biết rằng mình được tiêm vắc xin đề kháng với những khoảng trống không có thứ chi lấp đầy.
Nhưng khi có được cuộc sống tự do như mơ ước, chị thấy mình lại thấy trống trải khi tiễn bầy con ra về, sau cơn bụi tan dần chiếc xe dần khuất. Những đứa trẻ của chị cứ như sóng vậy, ào vào bờ rồi lại rút ra xa sau khi làm ướt cát, mài mòn đá, và mòn cả cái ảo tưởng của bà mẹ rằng chỉ cần mình tu tập đủ lâu, là có thể dứt duyên trần tục.
Biến mất, vượt thoát, từ bỏ, chủ đề đó hay trở đi trở lại trong đầu tôi. Với quyền năng của văn chương, tôi có thể cho những người đàn bà như mẹ hay chị gái tôi một phiên bản khác, tìm cách sống cho mình, vì mình.
Một người đàn bà đã chờ đợi hàng mấy mươi năm để được về bên người tình cũ của mình, nhưng mơ ước đó bị những đứa con ngăn trở, và đến cuối cùng bà đã được hẹn hò với biển, nơi có nắm tro trôi nổi của người tình. Đó là cuộc vượt thoát không thành, nhưng bà già ấy đã lên xe, biết dứt bỏ lại những vướng bận sau lưng.
Những cuộc vượt thoát sau này, nhiều nhân vật đã thành công. Một người vợ chịu đựng gã chồng thất chí lấy chuyện đốt nhà làm vui, bao lần lửa là bao lần chị ta dựng lại nhà, và đến một ngày chị không chạy ra khỏi căn nhà bốc cháy nữa. Chị kiệt sức rồi, hoặc chị tin chỉ đứng trong lửa thì người chồng mới nhìn thấy chị.
Hay một chàng trai đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính để sống thật với con người mình, thậm chí đã cắt đứt dây thanh quản để khỏi phải nói bằng giọng đàn ông, như một cách cắt đứt sự đeo bám và khiêu khích của người cha, vốn kỳ vọng đứa con trai thì có thể chống đỡ được sản nghiệp của gia đình.
Nhưng tôi không tìm được cách nào tự nhiên nhất, hoàn hảo nhất cho một bà mẹ bỏ trốn, khi mà con bà vẫn bám lấy không rời. Bay lên trời, hoặc hóa thành bướm chỉ là hiện thực đậm chất huyền ảo của văn chương. Tôi biết mẹ và chị gái tôi không làm thế được. Bao nhiêu dây nhợ mà đám con buộc vào, cộng với mớ dây mà hai người đàn bà này tự trói, đã khiến họ loay hoay trong sàn nước, gian bếp nhà mình, và hiếm hoi lắm họ mới chịu đi xa hơn khu chợ quen thuộc. Một hôm nào bị ép lên xe đi nghỉ mát vài ngày, họ cũng đã chuẩn bị sẵn hàng chục món ăn trong tủ lạnh và lo lắng suốt đường đi, không biết người nhà có ổn không, khi mình vắng.
Không phải vì ám ảnh cuộc đời của mẹ và chị mình, hay bởi thuyết của nhà Phật, mà tôi cứ ngờ rằng không có cuộc dứt duyên thật sự nào giữa cha mẹ với con cái, kể cả có dùng đến phương thức cực đoan, gây tổn thương nhất. Nhưng tôi giả vờ tin là có, như khi vờ rằng mình sẽ không bao giờ trở thành bản sao của mẹ, khi quẩn quanh khu bếp, nấu những món ăn lũ con ưa thíchvào những ngày chúng trở về nhà.
