Xác định khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng cho tăng trưởng của nền kinh tế, vì vậy tỉnh Thái Nguyên triển khai các giải pháp nhằm chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy hiệu quả ứng dụng và đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo kết quả; ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược, sản phẩm trọng điểm... Một trong những kết quả rõ nét nhất của việc triển khai chủ trương này đó là tỉnh đã hình thành được các sản phẩm KHCN gắn với lợi thế riêng.

Hợp tác xã Trà Quê Em đã đưa thông tin truy xuất nguồn gốc lên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa, sản phẩm quốc gia.
Sản phẩm KHCN thể hiện đặc trưng nhất của tỉnh Thái Nguyên đó là chè. Hiện toàn tỉnh có trên gần 24.000ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt gần 280 nghìn tấn, giá trị sản phẩm trà đạt trên 13,8 nghìn tỷ đồng, tiếp tục đứng đầu cả nước về diện tích, sản lượng và giá trị sản phẩm chè.
Xác định đây là cây trồng chủ lực, thời gian qua tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng đối với loại cây trồng này. Trong đó, nhiều diện tích chè theo hướng sản xuất an toàn, hữu cơ gắn với chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm đã được triển khai; các giải pháp thu hút đầu tư, ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ cũng đã được thực hiện.
Tỉnh cũng phấn đấu đến năm 2030, tổng giá trị sản phẩm thu được từ cây chè đạt khoảng 25.000 tỷ đồng; 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng; toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc; 100% sản phẩm trà được kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử.
Để cụ thể hóa mục tiêu này, các đơn vị, doanh nghiệp, HTX sản xuất, kinh doanh chè trên địa bàn tỉnh đã và đang chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Đơn cử như tại HTX Trà Quê Em, với quy mô vùng nguyên liệu gần 6ha, trong đó có 5ha đang được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ, còn lại đang thực hiện theo quy trình VietGAP, hiện nay các sản phẩm của HTX đã đến được với thị trường nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.
Để thực hiện mục tiêu tăng số lượng các sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao và mở rộng thị trường tiêu thụ, HTX đã chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến. Đồng thời đưa chuyển đổi số vào quy trình quảng bá, giới thiệu sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là một trong những đơn vị đầu tiên của tỉnh thực hiện thành công đưa thông tin truy xuất nguồn gốc lên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa, sản phẩm quốc gia.
Chị Nguyễn Thị Vân Anh, Phó Giám đốc Hợp tác xã Trà Quê em cho biết: “Để nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị kinh tế từ cây chè, chúng tôi đã ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình trồng, chăm sóc, chế biến. Ngoài ra, để đưa được sản phẩm đến với nhiều thị trường trong và ngoài tỉnh, hợp tác xã đã mở rộng các kênh bán hàng trên website hoặc các nền tảng mạng xã hội. Dự kiến chúng tôi cũng sẽ tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng số để xây dựng mã nhận diện thương hiệu chè trong thời gian tới”.
Không chỉ riêng cây chè, Thái Nguyên còn có nhiều lợi thế về nông nghiệp để phát triển các sản phẩm KHCN. Tại xã Chợ Rã - địa phương đang có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc sản, đặc trưng như bí thơm và mật ong, các ngành và địa phương đã phối hợp đưa các ứng dụng KHCN vào sản xuất, chế biến sản phẩm. Theo đó, nhiều lớp tập huấn chuyển giao KHCN, chuyển đổi số đã được chính quyền địa phương phối hợp triển khai.
Hiện nay, sản phẩm bí thơm và mật ong rừng đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao không chỉ được tập hợp sản xuất, tiêu thụ theo quy mô HTX mà còn được quảng bá trên các sàn thương mại điện tử hoặc các trang bán hàng uy tín; các sản phẩm nông sản của người dân đã dần đến với thị trường trong và ngoài tỉnh.
Ông Hoàng Văn Dụng, xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Hiện nay với việc ứng dụng KHCN vào sản xuất và chế biến, sản phẩm bí thơm và mật ong của chúng tôi vừa có thể bảo quản lâu hơn, chất lượng tốt hơn và giá trị kinh tế cũng cao hơn. Chúng tôi cũng có thêm nhiều khách hàng ngoài tỉnh nhờ việc quảng bá và bán hàng online qua mạng xã hội”.
Về vấn đề này, ông Hoàng Văn Thiên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên thông tin: “HĐND tỉnh Thái Nguyên vừa ban hành Nghị quyết Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030, Sở KH và CN tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp để cụ thể hóa chủ trương này. Đồng thời đổi mới hoạt động của quỹ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; mở rộng các hình thức đặt hàng tài trợ, hỗ trợ nghiên cứu theo nhu cầu của doanh nghiệp, tập trung nguồn lực để hỗ trợ giải quyết các bài toán lớn, những sản phẩm chủ lực và công nghệ chiến lược của tỉnh”.
Sau gần 2 năm thực hiện NQ 57 của Bộ Chính trị, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Đến nay, trong số 272 nhiệm vụ tỉnh được giao thực hiện theo các chương trình, kế hoạch của Nghị quyết thì trên 140 nhiệm vụ đã hoàn thành, không có nhiệm vụ quá hạn. Tỉnh đang tập trung phát triển 5 nhóm công nghệ chiến lược phù hợp với lợi thế riêng. Đây được coi là giải pháp đột phá để KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.

