Một hôm, Tùng gọi cho tôi từ Nhật.
Hai thằng hỏi nhau đủ thứ chuyện, nào công việc, vợ con, những người cùng xóm ngày trước giờ ở đâu.... Chuyện nọ xọ chuyện kia, nói mãi vẫn chưa hết những điều của mấy chục năm xa cách.
Rồi Tùng bỗng hỏi:
- Cây ổi trước sân nhà mày còn không?
Tôi im lặng.
Ngoài hiên, nắng tháng Tám đang rần rật trên mái. Khoảng sân trước đã khác xưa rất nhiều.
- Chặt rồi.
Đầu dây bên kia cũng im đôi phút.
- Tiếc thế...
Lời Tùng nói, khiến cả một khoảng nắng bỗng tràn về.
Cây ổi đào trước sân nhà tôi, thân xù xì, gân guốc. Tán lá xanh um. Tới mùa hạ, những cành thấp cong vít xuống vì quả. Trong đám lá, những quả ổi xanh lấp ló, lúc thò thụt bên này, lúc lại nghênh nghênh ngang ngang bên kia. Tụi trẻ chúng tôi cứ chạy quanh gốc cây, hau háu nhìn lên, rình chờ một vài quả chín.

Minh họa: Thanh Hạnh
Xóm tôi ngày ấy nhà nào cũng có ổi, nhà tôi có tới mấy cây, nhưng cây ổi đào trước sân mới là cây được lũ trẻ trong xóm yêu nhất. Tới mùa quả chín thân nó nhẵn bóng vì lũ trẻ cứ trèo lên tụt xuống, nhiều chỗ vỏ bong ra nham nhở. Những cành lớn vươn tay che mát cả một khoảng sân.
Giống ổi đào, với những quả nhỏ xinh, chỉ nhỉnh hơn quả trứng chim cút, không to bằng nắm tay như những loại ổi mới bây giờ, nhưng đổi lại quả sai lắm. Từng chùm quả lúc lỉu, cứ đung đưa trong gió.
Giống ổi đào quả có chuôi nom đến ngộ. Những quả còn ương, ruột cứng, cắn vào nghe giòn tan, còn những quả chín vỏ ngả màu vàng hươm, ruột đỏ hồng, hương thơm lựng.
Thời thiếu đói, lũ trẻ tinh ranh lắm, có đủ kiểu nhận biết quả nào ngon, có khi chẳng cần nhìn mà chỉ cần mũi thính là biết. Đứa nào trèo nhanh sẽ lên trước hái quả xuống, cả bọn xúm lại. Có những quả nú trong tán lá, chỉ lấp ló một nửa, thế mà đứa trèo cây cũng vạch lá tìm, hái cho bằng được.
Tùng bao giờ cũng leo cao nhất.
Nó ngồi nghênh nghênh trên chạc ba, hái quả chín nhất, lau qua vạt áo rồi cắn hích hích một mình.
- Tùng! Chia cho tao với!
Nó giả vờ không nghe. Tôi trèo lên, nó leo tót sang cành khác, khiến cây ổi rung rào rào. Tiếng trẻ con cười râm ran dưới góc sân.
Những buổi trưa ngày ấy dài lắm. Người lớn ngủ, còn chúng tôi thường trốn giấc, nhí nhóp ngoài sân. Chẳng có điện thoại, hay những món đồ chơi hiện đại, bắt mắt. Chỉ một cây ổi, vài cái vỏ lon méo mó, mấy viên đá và một lũ trẻ chạy nhảy đến nhễ nhại mồ hôi. Nô chán lại trèo cây, tìm quả chín. Tuổi thơ trong veo, cứ thế trôi...
Bây giờ, những giống ổi bán ngoài chợ quả nào cũng to, tròn, căng mọng. Một buổi trưa nắng như nung, ăn cơm xong, tôi chui tọt vào phòng điều hòa. Vợ tôi bước vào, hí hửng với túi ổi.
- Anh ăn thử đi. Ổi đào này ngon cực, em đặt mua tận nhà vườn bên Linh Sơn đấy!
Tôi cầm một quả vỏ xanh nhẵn, to lông lốc. Cắn một miếng. Giòn, ngọt và mát thật.
- Ngon không?
- Ngon. Nhưng… chẳng thấy nhiều vị như ổi ngày xưa.
Vợ tôi đá xéo:
- Anh thì cái gì xưa chẳng ngọt!
Tôi cười xòa. Nàng nói cũng có lý.
Ổi ngày ấy, đâu có to đẹp như bây giờ. Quả lại bé, nhiều hạt lắm. Nhưng được cái nhiều loại ổi. Ngoài ổi đào còn có ổi trâu, ổi mỡ, ổi găng, ổi cơm... Mỗi giống một vị. Ổi ương thì giòn tan, chan chát, chua chua, nhưng càng nhai lại càng thấy ngọt. Ổi chín thì mềm. Riêng ổi đào mang thứ hương thơm lựng mà dịu dàng, cứ như được cất riêng trong một ngăn bí mật. Chỉ một cơn gió đi qua, mùi hương lại lan ra, làm cho mũi nhồn nhột, làm cho lòng háo hức. Tôi luôn nghĩ, có lẽ mùa thu trong tôi bắt đầu từ hương ổi.
Thái Nguyên những năm ấy chưa đông đúc lắm. Thành phố bám dọc sông Cầu, những khu dân cư, bến bãi và con đường đan vào nhau. Mỗi mùa có một thứ hương riêng.
Tháng Tám, tháng Chín là mùa hoa quả.
Những ngày chẵn họp chợ, Bến Tượng đông nghịt người. Người từ các làng ven thành phố mang ổi, cau, thị, hồng, bưởi, nhãn tới bán. Cả khu chợ như dậy lên bởi mùi hoa trái.
Tôi nhớ nhất hương ổi. Nó rối ren giữa tiếng rao, tiếng xe đạp và tiếng nói cười. Hương ổi chín quyện với hương cau, hương thị, cứ lòe nhòe mãi trong nắng thu.
Đi qua một thúng ổi, chỉ cần thoáng ngửi thấy, tôi biết thu đã về rất sâu. Ngày ấy cuộc sống thiếu thốn đủ thứ. Chợ chẳng thấy những thức quả đắt tiền, nhưng nhìn những gánh hàng đầy hoa trái ấy, lòng ai cũng thấy rộn rã.
Mà mùa quả chín đến là lũ trẻ có quà. Thế thôi là đủ.
Hương ổi chín còn theo tôi vào những đêm Trung thu, với mâm cỗ có hồng, thị, bưởi và mấy quả ổi vàng thơm. Đèn ông sao trong xóm nối nhau tiến vào sân kho. Những xâu hạt bưởi khô cháy tí tách dưới trăng. Tiếng trống, tiếng chân chạy, tiếng trẻ con gọi nhau í ới.
Chạy chán, tôi trở về ngồi bên mẹ.
Mẹ đặt rổ quả giữa nhà. Cha rót chén trà. Hai người bàn chuyện chúng tôi sắp vào năm học mới… Trăng nằm trên mái nhà, hương trà vẩn vơ, và tiếng cha mẹ nói với nhau, rầm rì như thể những ngày ấy sẽ còn mãi.
Rồi tháng Chín đến với tiếng trống khai trường, với quần áo mới, giấy mực mới, hương ổi chín phảng phất trên con đường tới lớp. Mùa thu tuổi thơ tôi cứ thế mà ríu rít trong lòng bằng những thứ rất nhỏ: tiếng trống trường, quả ổi, và những người bạn…
Chúng tôi lớn lên lúc nào không biết. Thằng Tùng đi Nhật, những bạn cũ cũng tản ra mỗi người một nơi. Xóm tôi giờ đã thành phố sầm uất. Cây ổi trước sân cũng bị chặt để lấy chỗ xây nhà. Chỉ còn ký ức là vẫn yên vị.
Nhiều năm sau, Tùng điện thoại về. Nó kể bên Nhật hoa quả nhiều lắm, để rụng chẳng ai ăn. Hoa trái được chăm chút đẹp đẽ, nhưng chẳng hiểu sao vẫn nhớ cây ổi nhà tôi. Nó bảo:
- Giá mà có cây ổi đào trước sân thì thích.
Tôi khảng khái:
- Nếu kiếm được đúng giống cũ, tao tìm cho mày.
Một lời hứa chắc như đinh, nhưng sau khi cúp máy, tôi cứ ngồi nghĩ mãi, giờ biết tìm giống ổi đào cũ ở đâu!?
Cây ổi đã mất, cái sân cũng không còn. Thằng Tùng ở cách tôi hàng nghìn cây số. Vậy mà chỉ một câu hỏi, chúng tôi bỗng như trở lại cái xóm nhỏ xa lắc năm nào.
Tôi cầm quả ổi vợ vừa mua, đưa sát mũi. Ngoài cửa, nắng đã dịu lại. Thu đã về trong vắt. Tôi chợt thấy cây ổi trước sân vẫn xanh um, những quả ổi vẫn lúc lỉu trên cành, Tùng vẫn ngồi nghênh ngang ở chạc cây, và dưới gốc vẫn có lũ trẻ đang nhí nhóp tranh nhau quả chín.
