Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn

Bùi Việt Thắng

Lâu nay, văn học về chiến tranh thường được giới nghiên cứu, phê bình xem xét như là sự gom góp rất nhiều tác phẩm trong quá khứ và hiện tại, chứ chưa được quan niệm như là một tiến trình đầy mâu thuẫn sinh động, giả định là thường xuyên có sự biến đổi về chất bên trong. Từ đây, việc đánh giá văn học về chiến tranh nhất thiết phải được tiến hành bằng sự nghiên cứu, so sánh trên nhiều mặt giữa hai bộ phận: viết trong chiến tranh và sau chiến tranh. Đó là một công việc đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều chuyên gia văn học và cần có thời gian. Những ý kiến phác họa trong bài này nghiêng về xem xét bộ phận văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh, đặc biệt trong những năm gần đây.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn VNTN 28

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn VNTN 28

Về nguyên tắc, đề tài chiến tranh trong văn học hiện nay không thể tách rời, hơn nữa càng gắn bó mật thiết với đề tài đời thường và càng không thể tách rời với tiến trình chung của văn học, một tiến trình luôn đổi mới. Sáng tạo văn học bao giờ cũng được quy định bởi sự thúc bách của nhu cầu tinh thần thời đại. Trong chiến tranh, văn học phải kịp thời cổ vũ chủ nghĩa anh hùng toàn dân, khẳng định vẻ đẹp lý tưởng cách mạng và xây dựng những tính cách cao cả vì sự nghiệp lớn. Con người đang chiến đấu cần được khích lệ. Văn học về chiến tranh những năm chống Pháp, chống Mỹ đã thực hiện được sứ mạng cao cả của mình, phù hợp với khát vọng về độc lập, tự do của dân tộc. Ngày nay, văn học về chiến tranh phải đáp ứng nhu cầu tinh thần mới, bằng các hình tượng nghệ thuật giúp các thế hệ sau tìm thấy cái chìa khóa để mở cánh cửa của quá khứ, để nhận thức rõ ràng, sâu sắc hơn những vấn đề mà trong hòa bình, trong đời thường dễ bị lu mờ, lãng quên (tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, tình đồng loại, và cao hơn là tình đồng đội, sức mạnh tinh thần trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, tình người chân chính,...).

Cảm hứng nhân đạo của văn học về chiến tranh giờ đây cũng được quan niệm một cách đầy đủ hơn. Văn học thể hiện con người và chiến tranh trên cả hai mặt của một vấn đề: vai trò của con người đối với chiến tranh và vai trò của chiến tranh đối với con người. Như vậy, đứng về mặt triết học, văn học phải tự nhiên quan tâm tới quan hệ giữa con người và hoàn cảnh, cá nhân và xã hội, được và mất,... Văn học về chiến tranh sau chiến tranh không chỉ nhằm tái hiện sự thật về chiến tranh, mà chủ yếu nhằm làm giàu nhận thức của chúng ta về chiến tranh (các xung đột, tính phức tạp, quy luật của chiến tranh,...). Do đó, nó phải đạt tới sự phân tích nghệ thuật sâu sắc mang tính triết học về những gì nảy sinh trong thế giới tinh thần của con người thời đại. Văn học về chiến tranh hôm nay sẽ phát triển trên cái nền của đời sống hòa bình, thường nhật kết hợp với hiện thực quá khứ, được soi sáng trên quan điểm về chân lý lịch sử cụ thể và quan điểm về con người. Nhưng ở đây cũng cần phải nói ngay rằng, chân lý nghệ thuật không nhất thiết đồng nhất với chân lý lịch sử, cũng như điển hình nghệ thuật không đồng nhất với với điển hình đời sống.

Ngày nay, do chịu sự quy định của hoàn cảnh mới (độ lùi thời gian, tâm lý sáng tác, sự tiếp nhận của người đọc, cơ chế mới, giao lưu văn hóa, đặc biệt là tầm văn hóa và tầm nhìn của xã hội đều ở vị thế mới,...), văn học về chiến tranh tất yếu phải đổi mới. Nhưng đổi mới đến đâu thì cũng phải dựa trên nguyên tắc - nhân đạo nghệ thuật. Văn học về chiến tranh hôm nay (đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết) thường phong phú về chủ đề, đa dạng về phong cách và hình thức thể hiện. Không cần một khuôn mẫu nào cho sáng tác văn học, nhưng cần một định hướng lý tưởng nhân văn và thẩm mỹ rõ ràng, trong sáng, nhất là hiện nay, khi văn học về chiến tranh cùng lúc chịu nhiều áp lực khác nhau do cách nhìn chiến tranh từ nhiều góc độ triết học, chính trị, tâm lý, xã hội học, mỹ học, kinh tế học,...

Đã có một cách nhìn méo mó lịch sử, theo những thiên kiến chủ quan. Những thiên kiến này phảng phất một thứ “ý niệm tuyệt đối” về sinh - tử, được - mất, vinh - nhục,... Điều đáng chú ý là, có một số nhà văn chưa già và bản thân họ cũng đã nếm trải chiến tranh, đã sống hào hứng những ngày máu lửa. Nhưng sau này khi trở về cầm bút, kể lại cuộc chiến tranh đã qua, họ lại viết khác với họ sống. Có cảm tưởng như họ vừa thoát nạn “lễ tế thần”. Chiến tranh hiện ra trong một số tác phẩm của họ với bộ mặt gớm guốc khủng khiếp. Con người là nạn nhân thảm hại của cái “cối xay thịt” chiến tranh. Nhân dân vĩ đại trở thành một lực lượng tự phát, mù quáng, đáng thương, è cổ kéo cỗ xe lịch sử. Đáng tiếc là, những tác phẩm như thế lại gây một ấn tượng khá mạnh và sâu trong bạn đọc. Nhiều người đâm ra hoang mang và hoài nghi - nhất là các thế hệ chưa biết gì về chiến tranh. Tuy không nhiều, nhưng vì hạ thấp con người, nên những tác phẩm như thế quả là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ, những tác giả viết theo lối ấy dựa theo nguyên tắc tinh thần “phản tỉnh”, “sám hối”. Sự thực thì, không phải lúc nào phản tỉnh, sám hối cũng tất yếu dẫn đến hạ thấp con người. Thật ra, chính nhà văn ngộ nhận, chứ người đọc không ngộ nhận. Các tác phẩm miêu tả người lính trở về sau chiến tranh trở nên bấn loạn, thậm chí có khi trở nên thác loạn. Hội chứng chiến tranh đè bẹp, nghiến nát anh ta. Một hồi ức đẫm máu, nhòe nhoẹt khắp các trang sách. Chiến tranh quả thật không phải trò đùa. Nhưng nếu văn học miêu tả chiến tranh không trung thực và khách quan, làm cho con người rối trí, yếu hèn và bấn loạn tinh thần, thì chắc hẳn khó mà đạt tới đích nhân đạo hóa con người. Có tác phẩm, tuy viết với vẻ chân thực, nhưng sự chân thực ở đây mới ở cấp độ tiểu tiết, chi tiết, bộ phận. Đôi chỗ ngấp nghé tự nhiên chủ nghĩa. Con mắt nhìn của nhà văn trong trường hợp này bị thu hẹp giác độ, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

Nhưng điều làm chúng ta yên tâm là, đa số nhà văn có lương tri không hạ thấp con người, không phủ nhận xương máu của nhân dân đã kiên trì cuộc chiến tranh vì tự do. Mấy năm gần đây xuất hiện nhiều tác phẩm - chủ yếu là tiểu thuyết - có vang hưởng xã hội và có chất lượng nghệ thuật. Những giải thưởng văn học những năm qua đã được trao cho không ít tác phẩm viết về chiến tranh. Những con người trở về sau chiến tranh vẫn không ngơi nghỉ, tiếp tục cuộc đấu tranh để đứng vững trong hoàn cảnh mới. Họ chịu không ít mất mát, thậm chí có khi rơi vào những bi kịch, nhưng họ vẫn giữ được nhân cách của mình vốn được tôi luyện trong chiến tranh. Thực ra, cuộc đấu tranh cải biến xã hội theo lý tưởng nhân văn, không loại trừ bi kịch. Điều đó cắt nghĩa vì sao một số tác phẩm được bạn đọc ái mộ gần đây, đã được viết bằng hình thức bi kịch. Cần nhấn mạnh rằng, sự thành công của nhà văn khi dùng bi kịch thể hiện đời sống, chính là nhờ tựa vững vào nguyên tắc “thanh lọc tâm hồn con người”. Cách nhìn bằng bi kịch, nếu đảm bảo được nguyên tắc nêu trên, thể hiện một trình độ nghệ thuật mới của văn học về chiến tranh, một quan niệm nghệ thuật mới về con người. Đó là những “bi kịch lạc quan” được nâng đỡ bằng cảm hứng tương lai.

Sáng tạo văn học, trước hết và sau hết là của những cá nhân nhà văn. Ngoài tài năng là điều không thể thiếu, còn cần phải có một chữ tâm đích thực. Khảo sát về văn học chiến tranh gần đây, thấy rõ tuyệt đại đa số nhà văn là người có tâm huyết, muốn góp thêm cho đời một giá trị tinh thần mới. Tác phẩm của họ, vì thế, là một phần máu thịt cuộc đời họ. Đa số nhà văn viết về chiến tranh đều là những người chịu trận, từng trải chiến tranh, họ là người cầm súng trước khi cầm bút. Họ viết về những gì họ nghe, thấy, trải qua, và cảm nhận chúng bằng cả tâm hồn. Tác phẩm của họ có sự lắng đọng của kinh nghiệm sống và được chiếu sáng bằng lương tri người nghệ sĩ - công dân. Nhiều khi chỉ qua một chi tiết nhỏ trong tác phẩm bạn đọc thấy rõ, nếu không trải qua chiến tranh, nhà văn không viết được như thế. Triết luận của tác phẩm không phải được phát ra một cách tùy tiện từ người đứng ngoài cuộc hay người thoát nạn mà toát lên từ ý thức trách nhiệm sâu sắc của người cầm bút trước bạn đọc. Văn học về chiến tranh gần đây viết nhiều về nỗi đau, mát mát, về cả những khoảng tối trong mỗi con người. Nhưng cái nhìn của đa số các nhà văn là anh minh và đầy ý thức trách nhiệm. Có một nhà văn nước ngoài đã ví việc viết văn như người lái xe cầm vô - lăng, chịu trách nhiệm trước nhiều người về sinh mệnh của họ. Không thể lơ là trách nhiệm, không thể nửa tỉnh nửa say, phải luôn luôn tỉnh táo.

Cũng không tránh khỏi một cách nhìn có tính vị kỷ ở một vài nhà văn. Có vẻ như viết tác phẩm về cuộc chiến tranh đã qua là cái cớ để họ đay nghiến một điều gì đó, ai đó. Họ biểu hiện trong tác phẩm một sự hối hận vì đã làm một việc vô ích, và thậm chí tuyên truyền cho nhiều người khác rằng - các anh đã làm một việc vô ích.

Rõ ràng, cái nhìn của nhà văn mang tính đạo đức và lý trí rất rõ. Nếu nhìn con người tham gia chiến tranh như kiếp “con sâu cái kiến”, thì tác phẩm của họ tất yếu sẽ vẽ nên hình ảnh con người biến dạng, đáng thương. Bạn đọc thường là thông minh và tự trọng, chắc chắn họ không thích nhà văn thương hại và bêu riếu mình. Nếu nhà văn xuất phát từ cái nhìn bi quan, yếm thế, cực đoan thì chỉ có thể tạo nên những tác phẩm làm mềm yếu con người và tước đi ở con người ý chí, nghị lực và lòng tin vào cái chân - thiện - mỹ.

 Cái nhìn rõ ràng của nhà văn phải là cái nhìn của lý trí sáng suốt. Tất nhiên, sáng tạo văn học trước hết xuất phát từ tình cảm và tác động đến tình cảm con người. Nhưng nếu thiếu ánh sáng của trí tuệ, nhà văn sẽ rơi vào hỗn độn, làm mù mờ tất cả. Henri Barbusse, tác giả cuốn Khói lửa - tiểu thuyết nổi tiếng về chiến tranh, đã viết: “Không có một nghệ thuật nào có sức mạnh mà lại thiếu lý trí, trí tuệ được... Xa rời, đoạn tuyệt với quy luật của trí tuệ, lý trí, là không thể chấp nhận đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có trí tuệ - cái vốn không thể thiếu được trong một lĩnh vực không thật cụ thể  và cũng không thật trừu tượng - mới cho chúng ta khả năng để tạo nên tất cả giá trị tác phẩm... Và bất cứ mưu toan nào hạ thấp vai trò của trí tuệ cũng nhằm hạ thấp vai trò của nghệ thuật”.

Đã thấp thoáng xuất hiện trong một vài tác phẩm cái nhìn - tâm linh của người viết văn. Con người có tâm linh, rõ ràng là như thế. Nhưng thế giới tâm linh là một “mê lộ”, “mê cung”. Viết tâm linh, có thể chỉ là một thể nghiệm, tìm tòi, đôi khi nhà văn như nghệ sĩ biểu diễn trên dây, ít nhiều phiêu lưu, mạo hiểm. Nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật chúng ta chấp nhận thể nghiệm, có thể “không thành công cùng thành nhân”.

Trong văn học về chiến tranh, đã phát lộ khuynh hướng có ý nghĩa văn hóa thể hiện sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc theo tinh thần “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Suy cho cùng, hơn 100 triệu con dân đất Việt đều là “đồng bào” của nhau, đều là con Rồng cháu Tiên, chung dòng máu Lạc Hồng.

Văn học về chiến tranh khi tái hiện chiến tranh là nhằm đề cao khát vọng hòa bình ở con người. Không thể miêu tả con người say máu chiến tranh, vì như thế nhà văn đã vô tình xúc phạm tới phẩm giá con người. Vì chiến tranh là điều nhân loại không mong muốn. Nhưng trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, chiến tranh cần được tiến hành để bảo vệ độc lập và tự do của dân tộc. Và tiến hành chiến tranh là nhằm bảo vệ và củng cố hòa bình, thực thi khát vọng hòa bình.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn VNTN 28

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn VNTN 28

Từ sự phân tích trên, có thể rút ra một quy luật cho sự phát triển văn học về chiến tranh: Cảm hứng nhân đạo, hòa bình, tương lai là cái giá đỡ cho tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh đã qua. Và để văn học hướng con người tới tương lai, thì những tác phẩm viết về chiến tranh phải đạt tới nhiệm vụ nghệ thuật quan trọng là tạo nên cái vốn đạo đức được hình thành, khẳng định trong quá khứ anh hùng.

Không ai ngây thơ nghĩ rằng, văn học có thể ngay lập tức cải biến được xã hội. Trên quan điểm khoa học, sự đóng góp của văn học vào tiến trình xã hội là ở chỗ nó thức tỉnh lương tri con người, bồi dưỡng tâm hồn con gười theo lý tưởng chân - thiện - mỹ cao đẹp. Nó phải có khả năng dự báo xã hội (trên khía cạnh nhân văn), bằng nghệ thuật. Đối với văn học về chiến tranh cũng vậy, thông qua các hình tượng nghệ thuật, các nhà văn có thể gióng một tiếng chuông về những vấn đề xã hội thời hậu chiến, hoặc có thể dự báo hướng phát triển, góp một cách nghĩ, cách giải quyết các vấn đề của đời sống.

Được như vậy, văn học về chiến tranh sẽ thực hiện thiên chức cao cả của mình và sẽ là động lực lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Nhân luận bàn xung quanh vấn đề văn học về chiến tranh, thiết nghĩ tư tưởng của V.G. Bêlinxki, nhà phê bình Nga vĩ đại thế kỷ XIX, có thể là bài học cho chúng ta: “Từ biệt quá khứ, cật vấn quá khứ, là nhằm để giải thích hiện tại và để đoán định tương lai của chúng ta”.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bình luận