Sự chuyển động của đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi

VĂN THÀNH LÊ 09:09, 26/05/2026

Sinh thời, nhà văn Trần Hoài Dương từng tâm sự: “Tôi đến với văn học thiếu nhi như đến với một thứ Đạo. Viết là để đem lại lòng yêu thương và vẻ đẹp tuyệt vời của văn chương cho trẻ nhỏ.”(1) Có lẽ Trần Hoài Dương thuộc về số ít “tín đồ” của Đạo-văn-học-thiếu-nhi. Nếu kể thêm, có thể dẫn ra Thy Ngọc, Võ Quảng, Phạm Hổ, Vũ Hùng, Phong Thu, Nguyễn Hoàng Sơn. Và Tô Hoài, người đi hai hàng với văn học thiếu nhi và cả văn chương người lớn, ở lãnh địa nào cũng là lực-sĩ-chữ và đều tạo dấu ấn thành tựu sâu đậm.

Đường đến trường. Ảnh: Đào Tuấn
Đường đến trường. Ảnh: Đào Tuấn

Trước đây, rất ít nhà văn nhà thơ chọn văn học thiếu nhi ngay từ vạch xuất phát, thậm chí bước vào đường văn bằng văn chương người lớn nhưng rồi kiên nhẫn “em chọn lối này” với văn học thiếu nhi như các nhà văn kể trên cũng thuộc về số ít, vô cùng ít.

Phần nhiều, người viết làm bố làm mẹ làm ông làm bà rồi mới viết cho thiếu nhi. Nhìn con nhìn cháu để viết cho thiếu nhi, nên sáng tác cho thiếu nhi như một thứ chơi với con trẻ lúc nhàn rỗi, một thứ văn học bên lề của chính mình. Nào là nhân sắp đến Ngày Quốc tế Thiếu nhi, vào hè, Rằm Trung thu, thì viết bài thơ truyện ngắn gửi đăng báo. Hay là, có cuộc thi, cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi đây, giải thưởng viết cho trẻ em mà thấy cũng nặng tay. Bảng chữ cái sẵn đấy, chuyện thời tuổi nhỏ còn nguyên, vắt ra thử liền, chả chết bố con nhà nào. Lại có tác giả nhận ra, úm ba la một thời nhuận bút các báo Nhi Đồng, Khăn Quàng Đỏ, Rùa Vàng cũng cao, chịu khó cặm cụi bắt tép nuôi cò cũng được, nên viết.

Xuất phát điểm đều là… tiện tay nhả chữ. Mẫu số chung là tác giả đã có dấu ấn với văn chương người lớn, xuất hiện với tư cách tác giả văn chương người lớn rồi mới viết cho thiếu nhi. Nhìn lại các thế hệ viết cho thiếu nhi trước đây, không khó để nhận ra điều này. Vũ Tú Nam, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Phùng Quán là như vậy. Ma Văn Kháng, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Quang Thân cũng vậy. Rồi Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Duy Khán, Trần Mạnh Hảo, Vương Trọng cũng vậy. Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Đoàn Thị Lam Luyến, Trần Đức Tiến, Quế Hương, Lý Lan, Võ Thị Xuân Hà, Cao Xuân Sơn,… đều là như vậy.

***

Nếu như lực lượng tác giả 7X viết cho thiếu nhi vẫn là quán tính viết cho người lớn rồi mới sáng tác cho thiếu nhi, làm bố làm mẹ rồi con cái “ra đề bài” mới viết cho thiếu nhi, như Dương Thụy, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Xuân Thủy, Thụy Anh, Võ Diệu Thanh, Uông Triều, Nguyễn Lãm Thắng, Phạm Anh Xuân, Châu An Khôi, Huỳnh Mai Liên,… Thì thế hệ 8X, 9X bước vào văn học thiếu nhi từ sau năm 2000 đã hoàn toàn khác. Rất nhiều tác giả viết cho thiếu nhi ở độ tuổi chưa lập gia đình, thậm chí là mười tám đôi mươi. Điều này rõ nét ở Nguyễn Thị Kim Hoà, Lê Quang Trạng, Bùi Tiểu Quyên, Hồ Huy Sơn, Lạc An, Huỳnh Trọng Khang, Hoa Cúc và Mel Mel, Ngọc Linh, Tùng Lê, Vân Vũ, Dy Duyên, Lam, Dương Hằng, Cao Nguyệt Nguyên, Giai Du,… Bên cạnh đó là những tác giả trẻ ghi từ người lớn đến với trẻ em, như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Phương Huyền, Nguyễn Phong Việt, Lục Mạnh Cường,...

Thế hệ 8X, 9X đến với văn học thiếu nhi, nhiều người xác tín rõ ràng ngay từ đầu, không phải là dạo chơi trong ngôi nhà chữ. Ưu thế của thế hệ này là tiếp cận văn chương trong thời đại toàn cầu hoá, với công nghệ và ngoại ngữ, nhiều người có thể đọc bản gốc tác phẩm văn chương nước ngoài, nắm bắt được sự vận động của văn chương thế giới. Thế giới đã thực sự phẳng. Đồng thời, văn học dịch đầu thế kỷ 21 khởi sắc về số lượng với ồ ạt các dịch phẩm. Theo đó, người trẻ xuất hiện và bắt đầu viết khác thế hệ trước đây. Nhiều tác giả trẻ xác lập được giọng điệu và tính đi đường dài bằng những truyện ngắn truyện dài thiếu nhi. Không phải là ghi chép trên nền những câu chuyện của con cái như các tác giả 7X về trước. Phải thẳng thắn là, người trẻ viết sạch nước cản sớm hơn. Thời gian chạy đà được rút ngắn lại đáng kể. Thậm chí nhiều người không qua chạy đà, một bước là chạm đến văn chương thiếu nhi, như Dy Duyên với Cúc Dại và Tia Nắng, Bùi Tiểu Quyên với Cà Nóng chu du Trường Sa, Nguyễn Thế Hoàng Linh với Ra vườn nhặt nắng, Nguyễn Thị Kim Hoà với Tay chị, tay em, Lạc An với Ông Ba Bị và những đứa trẻ trong mơ, Hà mã đi bộ (Lã Thanh Hà) với Vương quốc nhỏ bí mật, Lam với Thưa ngoại con mới về, Giai Du với Nên làm gì khi trời nổi gió,…

Sự xác tín rõ ràng còn được thể hiện thông qua việc tác giả không chỉ dừng lại ở một cú tạt ngang, tiện bút tiện bàn phím với một tác phẩm rồi bỏ trẻ em chạy theo người lớn. Mà tác phẩm sau nối theo tác phẩm trước. Mà tác phẩm sau hay hơn tác phẩm trước. Đồng thời ở các tác giả thường trực có sự đau đáu trăn trở suy tư.

Nhà văn Lê Quang Trạng nói: “Tôi nghĩ là mình sẽ còn gắn bó với văn học thiếu nhi lâu nữa, bởi tôi cảm thấy mình còn nhiều điều muốn nói, muốn chia sẻ với độc giả qua dòng văn học này. Tôi cảm thấy văn học thiếu nhi như một đợt mưa rào tươi tốt cho tâm hồn và trang viết của tôi; và đến mãi lúc này (có thể sẽ lâu hơn nữa) tôi luôn nghe bên tai lời thì thầm của những nhân vật, rất trong trẻo dễ thương...” (2) Còn nhà văn Bùi Tiểu Quyên thì: “Từ trải nghiệm bản thân, tôi thấy việc chơi với trẻ con qua trang viết thật sự là điều ngọt ngào. Tôi nghĩ, người cầm bút nào nếu có mong muốn, nguyện vọng viết tác phẩm cho các em nhỏ, thì hãy tự tin bước vào cánh đồng vẫn còn đang rất cần người cày xới, chăm bón này. Đề tài để viết cho các em nhỏ quả thật là mênh mông, không có giới hạn cho sáng tạo.” (3)

***

Một điều nữa cũng đáng chú ý, là hai lăm năm qua văn học thiếu nhi chứng kiến sự nở rộ của các cây viết nhí ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, làm nhớ lại những năm cuối thập niên 1960 và 1970 từng có dàn tác giả nhí “chúng em viết cho chúng em” với Trần Đăng Khoa là người lĩnh xướng, cùng các bạn Nguyễn Hồng Kiên, Hoàng Hiếu Nhân, Chu Hồng Quý, Cẩm Thơ, Nguyễn Thị Hà Thanh, Khánh Chi, sang những năm 1980 là Hoàng Dạ Thi, Lâm Ngọc Quỳnh Anh… Nếu như trước đây các cây bút nhí chủ yếu được thơ gọi tên trên mặt báo, in sách thường là in chung, thì sau năm 2000, mười ngón tay ngoan trên bàn phím bên cạnh thơ còn có những cuốn truyện dày dặn, mà không chỉ một cuốn.

Có thể thấy, cứ vài năm lại có một tác giả nhí xuất hiện. Truyền thông được thể ồn ào. Càng về sau càng ồn ào nhiều hơn, với sự cộng hưởng từ mạng xã hội. Điểm gặp nhau ở các tác giả nhí, đa số đều là thế hệ F1 của những nhà văn, nhà báo, người làm trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, truyền thông. Phan Tuy An, con trai nhà văn Thanh Quế. Đặng Chân Nhân, con trai nhà thơ Đặng Huy Giang. Vũ Hương Nam, con gái nhà văn Nguyên Hương. Ngô Gia Thiên An, con gái nhà thơ Trang Thanh. Nguyễn Bình, con trai nhà phê bình Nguyễn Hoà. Minh Anh, con gái nhà thơ Trần Lê Khánh. Cao Việt Quỳnh, con trai nhà phê bình Cao Việt Dũng và nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang. Cao Khải An, con trai nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Đoàn Lữ Thụy Phương, con gái nhà thơ Đoàn Văn Mật và nhà thơ Lữ Mai. Có vẻ như qua rồi cái thời những tác giả nhí bước ra từ cánh đồng ruộng lúa bờ rau với ông bố bà mẹ cày sâu cuốc bẫm hoặc làm gì đó không liên quan đến chữ nghĩa?

Đặc biệt, nhiều tác giả nhí thông thạo ngoại ngữ, sẵn sàng hội nhập thế giới bằng ngoại ngữ và công nghệ. Ngay từ tập thơ đầu tay Đặng Chân Nhân đã tự dịch thơ mình ra tiếng Anh để in song ngữ. Nguyễn Hạnh Phương sáng tác bằng tiếng Anh rồi tự dịch qua tiếng Việt. Minh Anh sáng tác bằng tiếng Anh, sách in tiếng Việt qua bản dịch của người khác. Đặng Hà Linh và Nguyễn Khánh Chi sáng tác bằng tiếng Anh. Chưa kể, nếu như Phan Tuy An, Đặng Chân Nhân, Ngô Gia Thiên An bắt đầu bằng những bài thơ in trên báo giấy rồi mới in thành sách, thì từ Nguyễn Bình trở về sau, các tác giả nhí một bước thẳng vào sách. Nổ pháo cối, đại bác với tiểu thuyết, truyện dài, tập thơ chứ không phải pháo tép chạy đà là truyện ngắn, bài thơ in báo như trước.

** *

Ở phía ngược lại, hai lăm năm qua văn đàn cũng chào đón nhiều tác giả ở độ tuổi ngũ thập tri thiên mệnh hoặc nhận sổ hưu rồi mới đến với văn học thiếu nhi. Nhà văn Lê Văn Nghĩa quen thuộc với độc giả người lớn ở địa hạt truyện trào phúng một mình một sân, được ví như Azit Nezin của Việt Nam, khi về hưu bỗng rưng rưng nhớ Sài Gòn thuở trước nên quay ra viết khảo cứu, tản văn về Sài Gòn, và nhất là văn học thiếu nhi, văn học tuổi mới lớn với Mùa hè năm Petrus, Chú chiếu bóng, nhà ảo thuật, tay đánh bài và tụi con nít xóm nhỏ Sài Gòn năm ấy, Tụi lớp nhứt trường Bình Tây, cây viết máy và con chó nhỏ, Mùa tiểu học cuối cùng. Từ quan tỉnh (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình), tác giả Trần Hữu Bình về hưu mới tìm lại chữ theo nghiệp cha mình là nhà văn Hữu Mai. Bút danh Bình Ca của ông cùng hai tác phẩm Quân khu Nam ĐồngĐi trốn làm hai câu thơ “Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát/ Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca...” của Tố Hữu như được thể sống lại. Rồi Trung Sỹ với Thung lũng Đồng Vang. Bên cạnh đó, có thể kể đến Nguyễn Quang Lập với Thám tử Hai Da, tàu lá chuối và thằng Giôn, Làng ta có một anh hùng, Nguyễn Trí với Tuổi thơ không có cánh diều, Trên đồi đất đỏ, Chuyến du hành xanh biếc,… Thơ có Chào thế giới bây giờ con đã đếnViết trên lá mới của Lê Minh Quốc, Sài Gòn sót mấy con ve của Trung Dũng KQĐ, Góp nắng cho cây của Lê Ký Thương, Hạt bắp vỗ tay của Nguyễn Thánh Ngã,...

Hai lăm năm qua còn chứng kiến sự trở lại với văn học thiếu nhi của một số nhà văn, nhà thơ từng quen thuộc trên các trang báo thiếu niên nhi đồng một thuở. Đó là trường hợp Nguyễn Khắc Cường với Joni mặt tịt và đồng bọn tinh nghịch, Kho báu trong thành phố, Gia Bảo với Soái ca Mèo Mái Ngói, Nông trại Hoa Đậu Biếc, Mùa hè có tuyết,... Cùng với đó là sự ổn định, bền bỉ của những Nguyễn Nhật Ánh, Trần Đức Tiến, Lý Lan, Cao Xuân Sơn, Nguyễn Thị Bích Nga, Nguyên Hương,…

Có thực tế khác nghiêng về phía tiếc nuối, là một số tác giả từng tạo được ấn tượng khi viết cho thiếu nhi ở tuổi làm bố, nhưng đến lúc lên ông lên bà lại thua, lại lấm lưng trắng bụng trước các cháu. Thơ thiếu nhi Vũ Quần Phương thuộc về số này. Thuở làm bố Vũ Quần Phương từng Nói với bé thật duyên: “Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện/ Sẽ được nhìn thấy các bà tiên/ Thấy chú bé đi hài bảy dặm/ Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền” hay dắt con trẻ vào Trong vườn thật khéo: “Trong vườn con bạn cùng cây/ Tay con ôm lá, lá vây quanh người/ Yêu con, quả chín như mời/ Yêu cây con tặng chuỗi cười giòn tan”, rồi nhìn ra ngọn Gió thật đặc biệt “Giúp bao nhiêu việc cho đời/ Đố ai thấy được gió ngồi nghỉ đâu?” Nhưng đến những bài thơ viết cho cháu từ năm 1999 về sau thì lại lộ tử huyệt của sự nôm na, dễ dãi. Từ “Thằng cu Tuệ cười không răng/ Nó sáu tháng tuổi, ông gần sáu mươi/ Ngẩng lên, cuối thế kỷ rồi/ Ông trầm ngâm nghĩ, nó cười vô tư(Với thằng cu Tuệ) đến “Cu Tễu bây giờ biết hát nhăng/ Gọi ông điện thoại hát lăng băng/ Bài voi, bài ngựa đem khoe hết/ Lại đến bài chú Cuội ông Trăng” (Cháu Tễu hát khoe), rồi “Lại nhớ và thương cu Tuệ quá/ Cái hôm sinh nhật có đông không/ Chắc nhiều quà lắm, nhiều cô bác/ Chỉ có ông không được bế bồng” (Gửi cháu Tuệ). Cảm giác chất thơ thiếu nhi từng có trong thơ Vũ Quần Phương không còn nữa. Giá như tập thơ Thơ tặng tuổi thơ (2022) được tác giả tinh gọn thẳng tay hơn, những bài thơ viết cho cháu sau năm 2000 cứ “giữ làm của riêng”, thì ấn tượng về thơ thiếu nhi của Vũ Quần Phương sẽ còn nguyên vẹn lấp lánh.

Tương tự như vậy là trường hợp Chuyện của anh em nhà Mem và Kya của Nguyễn Quang Thiều. Những năm 1990, Nguyễn Quang Thiều ít nhiều tạo được dấu ấn với độc giả nhỏ tuổi qua Bí mật hồ cá thầnCon quỷ gỗ, nhưng đến Chuyện của anh em nhà Mem và Kya xuất bản năm 2019 lại thành đi giật lùi, dù được truyền thông cổ vũ và Giải thưởng Sách Quốc gia gọi tên. Ở truyện dài này, tác giả vào vai thư ký của cháu nội tên Mem sinh năm 2019 và cháu ngoại Kya sinh năm 2018 để giúp hai cháu “viết một cuốn sách kể những câu chuyện trong năm đầu tiên của cuộc đời mình”. Tuy nhiên, ông-nội-hiện-thực đã lấn át hoàn toàn thư-ký-truyện-kể. Xuyên suốt tác phẩm rất ít khi gặp giọng con trẻ, thay vào đó là đậm đặc giọng người lớn. “Ái chà chà, người già rất thích đặt tên cho con cháu của họ. Cô bé nằm giường cạnh tớ đây cũng được ông nội nó đặt tên cho đấy. Tên nó rất sành điệu: Giáng Tiên đấy. Chẳng biết cô bé sau này có thành tiên được không chứ bây giờ thì ngủ suốt ngày. Thức dậy là ăn rồi lại ngủ lại ăn… Chán chết đi được.” “Mem cười tít mắt và nói: Cái con cún con này chỉ được cái nói đúng.” “… Kya bèn ghi vào cuốn nhật ký nhỏ suy nghĩ của mình: ‘Cuộc đời đôi khi chỉ giản đơn như thế và hạnh phúc nhiều khi đến từ một con đường ít ai nghĩ tới’”. Đây là những câu thoại, những ý nghĩ của người lớn, trẻ con không thể nói những câu dài đến đứt lưỡi và xoắn não như vậy. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều từng nói rất hay: “Tôi luôn đồng ý với quan điểm của các bậc thầy: Anh ta phải trở thành một đứa trẻ, để anh ta có thể nói đúng ngôn ngữ của trẻ em. Chúng ta không nên đưa những bài học đạo đức theo cách của người lớn vào những tác phẩm văn học, mà chúng ta phải hóa thân vào một đứa trẻ cất lên ngôn ngữ và tâm hồn của chính nó. Thế mới tuyệt vời!”(4) Nhưng đọc Chuyện của anh em nhà Mem và Kya thì, cảm giác nhà văn nói một đàng mà viết một nẻo, từ lời nhà văn nói đến truyện nhà văn viết là Nghìn trùng xa cách.

Trường hợp “đoạn cuối” thơ thiếu nhi Vũ Quần Phương hay truyện thiếu nhi Nguyễn Quang Thiều không hẳn là quá hi hữu. Đó là thơ, văn “đóng cửa bảo nhau” của ông/ bà dành cho... chính mình và cháu mình. Cháu đọc để hiểu ông/ bà, để thấy mình được thương yêu như thế nào và phải “đáp đền tiếp nối” sống tốt ra sao. Còn độc giả nhỏ tuổi đọc sẽ rất khó vào, khó cảm, bởi không thấy hình bóng mình trong đó. Thế mới biết, tình yêu tình thương là điều kiện cần, là hạt giống để nảy mầm lên tác phẩm. Nhưng để có tác phẩm thật sự hay thì chỉ yêu thương thôi là chưa đủ.

***

Văn chương chữ nghĩa, có lẽ viết sớm hay viết muộn không quyết định tác giả đó sẽ xác lập được tiếng nói và thành tựu cỡ nào. Viết sớm là tín hiệu nhưng thành tựu lại là chuyện khác. Viết muộn không hẳn trâu chậm sẽ uống nước đục. Bước đầu thành công mà không vượt thoát, không bứt tốc được, thì mãi mãi chỉ ở trạng thái niềm tin và hy vọng, rồi dần đi vào vệt quên lãng. Viết muộn khi đã đủ đầy chất sống, chiêm nghiệm, độ nén được thể bung ra, dễ tạo dấu ấn và trường sức. Thực tế nhiều người đã đi trước mà về sau, thậm chí không về nữa mà đi lạc đâu đó. Còn nhiều người đi sau mà về trước. Văn chương chữ nghĩa, như đã nói, là con đường vô tăm tích, là vậy.

Nhìn lại đội hình tác giả nhí những năm 1960-1970, có vẻ như còn mỗi Trần Đăng Khoa là đi và đã đến, tất nhiên ông đã cắt đuôi thơ thiếu nhi sau khi qua tuổi này. Phan Thị Vàng Anh là cái tên có tác phẩm đứng lại được với thế hệ Khi người ta trẻ của mình để bước vào Hội chợ chữ. Khánh Chi sau khi Gửi gió về cho nội thì được đào tạo ở Học viện Viết văn Maxim Gorki (Liên bang Nga) nhưng không gửi thêm gì trong thơ thiếu nhi nữa mà xuất bản một vài tập truyện ngắn và thơ bình bình, rồi chuyên tâm làm báo. Lâm Ngọc Quỳnh Anh từng là gương mặt thơ ấn tượng. Nhà thơ Ý Nhi đã có thơ Gửi cháu Lâm Ngọc Quỳnh Anh năm 1990 với đoạn “Bác chỉ có trong tay tờ giấy học trò/ chép bài thơ của cô bé lên mười/ với nét chữ thật tròn, thật to/ và với nỗi lo âu thật lớn// Bác chẳng biết chi trò bói toán/ cũng chẳng phải nhà tiên tri/ nhưng mà cháu ấy mà/ nhất định có trái tim đa cảm/ nhưng mà cháu ấy mà/ cháu rất là bướng bỉnh/ phải thế không Quỳnh Anh”. Không rõ lời dự báo của Người đàn bà ngồi đan có đúng không, nhưng rồi không thấy Quỳnh Anh xuất hiện thêm nữa. Hoàng Dạ Thi nổi tiếng từ tuổi lên 10 với tập thơ Cái chuông vú, là kết quả của trò chơi “nói thơ” ở tuổi lên ba lên năm được mẹ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ghi lại. Lớn lên, Hoàng Dạ Thi viết truyện tuổi mới lớn, làm báo gặt hái một vài giải thưởng văn chương nhưng rồi lập gia đình qua Mỹ định cư, không thấy viết gì nữa. Phan Tuy An theo hội họa và trở về với tên thật là Phan Hoàng, giảng viên Khoa Mỹ thuật ứng dụng, Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh không nhắc gì đến chữ, cùng lắm là đọc và thiết kế bìa cho một số tập thơ, sách vở của bạn bè hoặc bạn của bố. Nguyễn Bình không đi hết 8 tập Cuộc chiến với hành tinh Fantom như dự kiến. Vũ Hương Nam học ngoại ngữ, mong muốn phát triển thành dịch giả. Ngô Gia Thiên An hiện làm dịch thuật và truyền thông. Câu chuyện làm sao để các cây bút nhí, hay tài năng ở các lĩnh vực phát lộ sớm, chiến thắng ngay ở vạch xuất phát nhưng có thể nở nụ cười ở vạch đích, là câu hỏi lớn với mỗi bậc cha mẹ, mỗi người lớn chúng ta.

Sau lại, nhìn lực lượng tác giả viết cho thiếu nhi đầu thế k 21, tôi hình dung về một chu kì tác giả và dấu ấn văn chương sẽ được xác lập. Trước đây chúng ta có khoảng hơn mười năm, từ 1981 đến 1994, văn học thiếu nhi xuất hiện nhiều tác giả ‒ tác phẩm tiêu biểu, ấn tượng với những cái tên đã được nhắc nhiều ở các phần trên. Và bây giờ, khoảng từ sau năm 2015 đến nay, là lứa tác giả 8X , 9X, sinh sau năm 2000. Dĩ nhiên, tác phẩm hay luôn cần thời gian sàng lọc, trả lời. Chưa kể thời buổi giờ sàng lọc khắc nghiệt hơn. Nhưng tôi vẫn có niềm tin một số tác phẩm sẽ đứng lại được, xứng đáng đứng được, từ nguồn chữ của các tác giả trẻ.

1. Võ Thu Hương, Lê Quang Trạng: Nhà văn 9X ghi dấu ấn văn học thiếu nhi, https://baolamdong.vn/van-hoa-nghe-thuat/202401/le-quang-trang-nha-van-9x-ghi-dau-an-van-hoc-thieu-nhi-d282161/google_vignette

2.https://tuoitre.vn/nha-van-tran-hoai-duong-ca-doi-viet-cho-thieu-nhi-22078.htm

3.Thiện Nguyễn, Bùi Tiểu Quyên: Tôi chỉ trao thêm cho nhân vật một trái tim, http://vannghequandoi.com.vn/vnqd-ket-noi/nhan-vat-tuan-nay/bui-tieu-quyen-toi-chi-trao-them-cho-nhan-vat-mot-trai-tim_12211.html

4.Hiền Lương, Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Viết cho thiếu nhi để được quay về tuổi thơ và bớt đi những “phàm phu” của cuộc đời, https://thethaovanhoa.vn/nha-van-nguyen-quang-thieu-viet-cho-thieu-nhi-de-duoc-quay-ve-tuoi-tho-va-bot-di-nhung-pham-phu-cua-cuoc-doi-20200928235732445.htm