Trẻ em miền núi với ước mơ đến trường trong văn xuôi thiếu nhi dân tộc thiểu số hiện đại

Cao Thị Hảo 09:56, 26/05/2026

1. Văn xuôi viết về thiếu nhi đã có khá nhiều tác giả dân tộc thiểu số quan tâm.

Chúng ta có thể kể tới các nhà văn dân tộc Tày như Vi Hồng, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Hà Lâm Kỳ, Nông Đình Khiêm,… Dân tộc Mông có Mã A Lềnh; dân tộc Giáy có Lò Ngân Sủn; dân tộc Mường có Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường. Dân tộc Hà Nhì có Chu Thị Thùy Liên. Dân tộc Thái có La Quán Miên. Dân tộc Chăm có Inrasara, Trà Vigia. Dân tộc Ba Na có Kim Nhất; Dân tộc Ê đê có Hlinh Niê, Niê Thanh Mai; Dân tộc Hoa có Lý Lan,... Điều này cho thấy văn xuôi thiếu nhi dân tộc thiểu số khá phong phú và đa dạng. Trong sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số, hình ảnh trẻ em miền núi với khát vọng đến trường là điểm nổi bật được tô đậm, thể hiện sinh động với nhiều cung bậc cảm xúc. Dù phải đối diện với không ít khó khăn, thiếu thốn, vất vả, thậm chí là bi kịch nhưng ước mơ đến trường luôn là miền sáng trong tâm hồn mỗi đứa trẻ vùng cao. 

Niềm vui trên rẻo cao. Ảnh: Quốc Chính.

2. Hình ảnh trẻ em miền núi với ước mơ đến trường

2.1. Trẻ em vượt khó để học tập và thực hiện những ước mơ

Do điều kiện kinh tế còn khó khăn, trường, lớp ở xa nên trẻ em miền núi đến được trường là cả một vấn đề. Nhiều học sinh có khi bắt đầu học vỡ lòng đã lớn tuổi bằng các em học cấp 2 ở miền xuôi. Những cậu bé trong câu chuyện Lớp vỡ lòng bản Chiềng Yên (La Quán Miên) đã vui mừng biết mấy khi biết mình được đi học “Anh tao mười lăm tuổi mới đi học. Tao mới có tám tuổi…Tao cũng muốn đi học rùi. Ở nhà chán lắm!”. Con đường đi học của các em nhỏ miền núi là đi bộ qua núi, có khi phải lội qua những con suối sâu đầy nguy hiểm “Tôi vấp phải đá dưới chân làm rơi quyển vở xuống nước... đành để nó trôi đi xa”. Cuộc sống khó khăn, giao thông đi lại bất tiện là những chướng ngại vật vô cùng lớn đối với trẻ em vùng cao trên con đường đến trường. Nhưng cũng vì thế mà những học sinh vùng cao một khi đã quyết tâm học tập thì đều đạt kết quả tốt, bởi những khó khăn khiến các em coi học tập là con đường để thay đổi cuộc sống của mình, của đồng bào mình. Chính vì thế những con chữ có một mãnh lực vô hình khiến các em khát chữ còn hơn khát cơm, khát nước.

Những tấm gương vượt khó học tập tiêu biểu như những cậu học sinh trong Đường về với mẹ chữ của nhà văn Vi Hồng. Hơn ba trăm cây số đường rừng với vô vàn những nguy hiểm không làm những học sinh từ Cao Bằng nản lòng trên con đường tìm về với “mẹ chữ”. Cái đói, cái rét, sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần họ đều có cách để vượt qua và đạt được ước mơ học tập của mình. Quãng đường từ Cao Bằng xuống Thái Nguyên những năm 60 thế kỷ trước phải băng qua những cách rừng đại ngàn âm u như địa ngục, với hổ báo, chó sói và những đàn rết lớn nhưng họ đều vượt qua. Ở trường học, những em nhỏ miền núi còn phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn như cái đói, cái rét: “Chúng tôi chăm chỉ học trong nghèo nàn, thường xuyên đói. Mùa đông mặc không đủ ấm. Chăn đắp chỉ là những chăn chiên cũ kĩ. (…). Cũng nhờ có mỡ rẻ, nên mùa đông chúng tôi tạm chống lại được với cái rét, có ngày như cắt da cắt thịt của xứ Thái”. Cuộc sống trọ học của các cậu học trò đến từ Cao Bằng ở xứ Thái thiếu thốn trăm bề, mùa đông lạnh ôm nhau đắp chung chăn cho ấm. Ăn uống cũng vô cùng kham khổ, những trẻ em miền núi chỉ có tiền mua thứ mỡ rẻ nhất là mỡ chài, mỡ lá rán lên lấy mỡ xào rau. Họ cố ăn cho nhiều mỡ để lấy sức học và lấy sức chống lại mùa đông rét mướt. Chuyện học cũng không kém phần gian nan. Ham học, hiếu học nhưng họ nghèo đến nỗi ngay cả thứ giấy xấu nhất, rẻ tiền nhất cũng không có khả năng mua để viết, cuối cùng một “phát kiến vĩ đại” được đưa ra, giúp họ tạm thời đối phó được với khó khăn này: “cho vôi vào khoắng trong một cái nồi to rồi đun sôi lên, bỏ cả giấy đã viết vào ninh như ninh xương khoảng nửa tiếng thì vớt ra nhúng vào nước sạch để rửa rồi đem phơi khô. Những tờ giấy này dù là giấy trắng tinh hay giấy loại xoàng đều biến thành một màu vàng úa. Các dòng chữ viết cũ đã mất hẳn. Chúng tôi chủ yếu viết bằng loại giấy luộc với nước vôi này”. Vượt qua tất cả những khó khăn, những đứa con của mảnh đất Cao Bằng xuống Thái Nguyên học đều trở thành “vua” trong một lĩnh vực học tập. Quả thật khó khăn không thể ngăn được quyết tâm của những cậu bé có ý chí, mà đôi khi nó lại chính là động lực thúc đẩy để họ làm được những gì mà họ khao khát.

Nhân vật Hoàng (Thách đố - Vi Hồng) cũng là một thiếu niên có quyết tâm sắt đá với niềm đam mê học tập của mình. Sinh ra trong một gia đình chỉ còn mẹ, gia cảnh vô cùng nghèo khổ, hằng ngày còn phải cố gắng kiếm cái ăn giúp người mẹ bệnh tật, nhưng Hoàng ham học và học giỏi: “Hoàng vẫn sáng sáng đi học, chiều chiều lại lên núi chăn trâu thuê và mang theo sách học bài”. Sự hiểu biết giúp Hoàng vạch mặt được những trò lừa gạt của tảo Lăm Đăm, thức tỉnh được những người già mê tín trong bản. Hoàng chính là tấm gương cho những thanh thiếu niên trong bản noi theo, chính cậu cũng giúp chú bé Ang tránh được con đường hư hỏng, sai lầm để trở thành người tốt.

Trong các sáng tác của Đoàn Lư, có không ít các tấm gương hiếu học. Tiêu biểu là Chẩn (Bên dòng Quây Sơn). Do cảnh sống ở trọ có nhiều bất lợi nên cậu bé quyết định hằng ngày đi về với quãng đường bốn mươi cây số. Tuy vậy nhưng Chẩn ngày càng tiến bộ, vì đã nghĩ ra cách học thật đặc biệt:“Trên đường về nhà trước khi trời tối nó vừa đi vừa cố nhớ lại nội dung bài giảng trên lớp của thầy giáo, chỗ nào không nhớ được thì mới mở vở ra xem”. Trong Hạt giống bản Mông, cậu bé A KhiAo sinh ra và lớn lên trong cảnh sống lạc hậu, đói nghèo cả bản hầu như không ai biết chữ. A KhiAo được ông trưởng bản và cô giáo giúp cho đi học ở trường nội trú vì cậu là người được học nhiều nhất bản, là “hạt giống”, là tương lai của bản nghèo. Trước kì vọng của mọi người A KhiAo đặt quyết tâm:“Quyết không trốn học. Hãy chịu khó chịu khổ một chút, mình sẽ cố gắng học thật giỏi. Cây ngô muốn tốt tươi thì trước hết hạt ngô giống phải khỏe khoắn”. Với suy nghĩ ấy A KhiAo đã trở thành hạt giống tốt của bản Mông, không phụ lòng mong mỏi của mọi người, cố gắng học thành tài để trở về xây dựng quê hương.

Ngay trong bộ tiểu thuyết Lêna - Kítti (Đoàn Lư) cô bé Lêna và các bạn của mình dù sinh ra trong hoàn cảnh thuận lợi, được tạo mọi điều kiện tốt nhất để học tập nhưng không vì thế mà lơ là nhiệm vụ của mình. Hằng ngày cô bé và bạn bè mình không ngừng trau dồi nâng cao kiến thức để thực hiện những ước mơ cao đẹp vì một thế giới ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Hay như cậu bé Pu trong Núi Bó Phạ trở về dù mặc cảm tật nguyền, gia đình khó khăn nên bỏ học từ sớm nhưng ước mơ được đến trường không lúc nào nguôi trong lòng cậu. Cậu trò nhỏ ấy vẫn tới nhìn qua khe cửa lớp xem cô giáo dạy học mỗi ngày.

Trong từng trang viết, Mã A Lềnh đã tái hiện cuộc sống lam lũ, nhiều thiếu thốn vất vả của trẻ em dân tộc Mông. Mặc dù nhỏ tuổi nhưng các em cũng phải “đi lên núi đào củ mài, đào dúi, bẫy chuột” để mưu sinh. Đó là một công việc vô cùng vất vả và nguy hiểm ngay cả đối với người lớn. Thậm chí, khi đi học nội trú, lần đầu tiên cậu bé mới được xỏ chân vào đôi dép: “Tôi lắp chân vào guốc, đứng lên thử ngượng quá…Từ bé đến giờ tôi có biết guốc, dép là cái gì đâu!...” (Làng mình). Người đọc bỗng thấy xót xa cho những số phận đang phải chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn nơi vùng sâu, vùng xa ấy. Hiện thực đời sống trẻ em miền núi còn được nhà văn dân tộc Mông tái hiện qua cuộc sống nội trú của học sinh miền núi. Các em vẫn phải đối diện với những thiếu thốn về cái ăn, chỗ ngủ trong cuộc sống hằng ngày: “Gian phòng ngủ của bọn chúng tôi người ta kê sẵn cho hai dãy phản, một ngọn điện đỏ quạch. Chẳng cánh cửa…” (Làng mình). Đó là những sự thật nhói lòng trong hiện thực cuộc sống của trẻ em miền núi. Truyện ngắn của ông chất chứa bao trăn trở và những dự cảm đầy ám ảnh về những vấn đề mà người dân miền núi và thiếu nhi dân tộc thiểu số đã và đang phải đối mặt. Vì nghèo đói, nên các em không thể đến trường, nhưng được đi học theo chính sách nhà nước ở các trường nội trú thì cũng không dễ xa rời bản làng. Thằng Vênh nhận ra đi học sướng hơn theo trâu nhưng “cháu nhớ nhà, nhớ trâu ngựa, nhớ bếp lửa quá!... Cháu chả làm sao nhét được chữ vào đầu!” (Làng mình). Phải xa gia đình đi học xa khi mới khoảng mười tuổi, việc chưa nói tiếng phổ thông thành thạo cũng cản trở các em học tập và giao tiếp với các bạn. Chính vì thế nên nhiều học sinh đã bỏ học. Phải chăng học sinh các dân tộc thiểu số học yếu kém một phần chính là ở chỗ ấy, chứ không phải là họ ít thông minh hơn các học sinh khác? Đây là một trăn trở mà nhà văn dân tộc Mông đã đặt ra. Mã A Lềnh muốn đi sâu vào hiện thực cuộc sống còn nhiều khó khăn mà trẻ em miền núi phải đối mặt để phân tích và chỉ ra nguyên nhân có tính lực cản, níu kéo sự phấn đấu vươn lên của thiếu nhi dân tộc thiểu số trên con đường nhọc nhằn đi tìm “mẹ chữ” với một chí hướng quyết tâm đi học để “làm người Nhà nước”. Với con người miền núi, nhất là những em nhỏ, đi học để trở thành “người Nhà nước” là con đường duy nhất và cũng là một ước mơ thật cụ thể để thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu.

Các sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số đã mang đến những tấm gương trong việc vượt khó học tập. Những tấm gương ấy là minh chứng cho lòng hiếu học của đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày nay, con đường đến với “mẹ chữ” của các em nhỏ vùng cao vẫn còn vô vàn những vất vả khó khăn, nhưng các em sẽ luôn có quyết tâm và nghị lực trên con đường chinh phục tri thức của mình.

2.2. Những mảnh đời bất hạnh với khát vọng đến trường

Không chỉ viết về những tấm gương vượt khó, vươn lên trong cuộc sống và học tập của thiếu nhi miền núi, các nhà văn dân tộc thiểu số còn dành nhiều trang viết để miêu tả những mảnh đời bất hạnh của những nhân vật thiếu nhi “sinh ra từ bản”, “bước ra từ núi”. Nổi bật hình ảnh trẻ em miền núi dân tộc thiểu số với cuộc sống nhiều màu sắc: khó khăn, vất vả nhưng đầy lạc quan, nhân ái; nhọc nhằn, thiếu thốn nhưng đầy ý chí, nghị lực. Và trên hết là ước mơ và khát vọng học tập luôn thôi thúc các em đến trường.

Trong sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số chúng ta còn bắt gặp hình ảnh những em nhỏ bất hạnh sinh ra không cha không mẹ như thằng Côi trong Kiềng ba chân (Đoàn Lư). Hay cậu bé ăn mày vô danh trong truyện ngắn Đứa ăn mày (Đoàn Ngọc Minh). Ngay từ khi mới sinh ra các em đã không được hưởng sự quan tâm của cha mẹ, hằng ngày phải lang thang xin ăn, một bữa cơm no, một giấc ngủ ngon cũng trở nên xa vời đối với những đứa bé mồ côi ấy.

Những em bé như bé Mỉ (Hoa núi - Đoàn Lư), Trà Mi (Cô bé nhặt hoa rụng - Đoàn Lư), Pu (Núi Bó Phạ trở về - Đoàn Ngọc Minh) sinh ra không được may mắn như bao nhiêu người khác khi các em không được ông trời ban cho một cơ thể khỏe mạnh vẹn toàn. Mỉ (Hoa núi) bị mù từ lúc mới sinh ra, cuộc sống xung quanh có biết bao nhiêu màu sắc nhưng với em thì chỉ toàn màu đen, tăm tối, đáng sợ. Pu bị tật một bên chân do hậu quả của trận sốt từ khi mới lọt lòng khiến cho cậu bé mười lăm tuổi mà “trông còi cọc chỉ bằng đứa trẻ lên năm”. Và cái thân hình nhỏ bé ấy lại phải gánh trên vai trách nhiệm của người anh cả trong gia đình. Ngày ngày Pu chăn trâu, trồng cây và chăm sóc các em giúp mẹ. Trà Mi (Cô bé nhặt hoa rụng) do di chứng của chất độc da cam nên có một khuôn mặt bất thường: “Tóc nó đỏ hoe cộc cớn, lốm đốm bạc, mắt nó bên to bên nhỏ, bên to thì lòng trắng chiếm gần hết, bên nhỏ thì mí trơ ra đỏ lòm. Đã vậy cái mũi nó lại to bè, bẹp rúm trông chẳng ra thể thống gì, cái trán thấp tè, gồ, cái miệng rộng trên môi còn vết sẹo phẫu thuật thẩm mĩ từ hồi còn bé tí. Cái cằm lẹm, răng màu xỉn, mọc lộn xộn, tai cũng bên nhỏ bên to” (Đoàn Lư). Cô bé là một minh chứng tố cáo tội ác của chiến tranh. Biết bao giờ em mới hòa nhập được vào cuộc sống đời thường như bao đứa trẻ khác?

Viết về những mảnh đời bất hạnh, nhưng các nhà văn không vì thế mà khiến độc giả mất niềm tin vào cuộc sống. Thàn, Nen, Pèng trong Người làm mồi bẫy hổ tuy gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống, nhưng cuối cùng cũng đã được trở về quê hương, đoàn tụ bên nhau và hạnh phúc đã bắt đầu mỉm cười với họ. Bé Na và mẹ trong Ma gà cũng đã được rửa tiếng oan và sống yên ổn. Những nạn nhân của ma túy đã được cộng đồng giúp đỡ. Cô bé Sùng Thị Sinh trong Tuổi thơ oan nghiệt được những cán bộ y tế cứu sống và đưa đi cai nghiện. Bé Hảo trong Tấm lòng bè bạn, đã được mọi người tạo cơ hội cho em trở lại trường học. Những mảnh đời bơ vơ cũng đã bắt đầu tìm thấy chỗ neo đậu của cuộc đời mình. Thằng Côi (Kiềng ba chân) cũng được mọi người giúp sức làm cho một căn nhà nhỏ để ở và được đến trường với các bạn.

3. Với cái nhìn chân thực về cuộc sống, các nhà văn dân tộc thiểu số đã phản ánh những số phận của trẻ em dân tộc thiểu số ở miền núi nước ta.

Họ đã gửi đến độc giả của mình những bài học về tình người, về sự đùm bọc sẻ chia. Người đọc cảm thương và đau lòng trước những hiện thực khó khăn thậm chí là nghiệt ngã mà những em nhỏ đã và đang phải trải qua ở vùng núi cao nước ta nhưng cũng đặc biệt khâm phục ý chí vươn lên để thực hiện ước mơ và khát khao đến trường để được học chữ, được thay đổi cuộc đời mình của các em nhỏ. Những trang viết mang giá trị nhân văn sâu sắc đó sẽ đưa con người đến gần nhau hơn để cùng nhau xây dựng vùng biên cương của Tổ quốc mỗi ngày càng giàu đẹp, ấm no, hạnh phúc.