Đối với người dân Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám và Ngày Quốc khánh 2-9 luôn là ngày lễ đặc biệt nhất. Cách đây hơn 8 thập kỉ, vào những ngày tháng Tám mùa thu năm 1945, toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vùng lên giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Đỉnh cao của Cách mạng Tháng Tám chính là ngày 2-9 lịch sử, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới về một nước Việt Nam “có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập” đánh dấu sự chấm dứt của chế độ thuộc địa và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Với ý nghĩa lớn lao đó, Cách mạng Tháng Tám và Ngày Quốc khánh 2-9 đã trở thành đề tài, nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều nhà thơ.

Quảng trường Ba Đình gắn liền với cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bản anh hùng ca vĩ đại của dân tộc. Ảnh: tư liệu
Xuân Diệu, “ông hoàng của thơ tình Việt Nam”, người được Hoài Thanh nhận xét là “mới nhất trong các nhà Thơ Mới”, là một trong những nhà thơ sớm đến với cách mạng và cũng là một trong những người có những sáng tác đầu tiên về ngày độc lập. Trong trường ca Ngọn Quốc kỳ, ông đã cất lên những lời thơ hào sảng, tự hào về một đất nước vừa bước sang trang sử mới:
Việt Nam! Việt Nam! Cờ đỏ sao vàng!
Những ngực nén hít thở Ngày Độc lập!
Nguồn lực mới bốn phương lên tới tấp!
Nếp cờ bay chen vỗ sóng bài ca…
Tiếp mạch cảm hứng về đất nước độc lập, trong Hội nghị non sông, Xuân Diệu viết về cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tháng 1 năm 1946 - một hành động thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và của Nhà nước cách mạng non trẻ vừa thành lập. Với Xuân Diệu, mỗi lá phiếu bầu cử chứa đựng cả một quá khứ đấu tranh hào hùng của dân tộc để đi đến ngày độc lập hôm nay, đồng thời mang theo niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng:
Miếng giấy nhỏ có gan và có máu
Có tháng ngày sắt lửa với vàng son
Có trại giam, có ngục tối, có nhà chôn
Có tranh đấu, có biểu tình, khởi nghĩa
Có cách mạng có biết bao nhiêu lệ
Có đau buồn mà cũng có thành công...
Nhà thơ Tế Hanh - một gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, sau Cách mạng đã có nhiều sáng tác gắn với đời sống và lí tưởng mới, thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức của văn nghệ sĩ tiền chiến khi đi theo Bác, theo Đảng. Ông cũng có những vần thơ reo vui về ngày Quốc khánh trong bài Đêm 2 tháng 9:
Năm trước đêm Hai tháng Chín
Đầu xuân mười tuổi cộng hòa
Hai ta dạo quanh hồ Hoàn Kiếm
Anh giữa một trời sao pháo hoa
Không khí mừng Tết Độc lập được nâng lên tầm vóc tươi mới, tràn đầy sức sống như chặng đường “đầu xuân” của một đất nước trẻ trung. Trong khung cảnh thiêng liêng ấy, không gian hồ Hoàn Kiếm - trái tim của Thủ đô Hà Nội hiện lên lung linh, rực rỡ với một trời sao pháo hoa. Hình ảnh pháo hoa bừng sáng trên nền trời đêm không chỉ là ánh sáng thực của ngày lễ hội mà còn là biểu tượng cho niềm vui, niềm tự hào vỡ òa của một dân tộc vừa trải qua những năm tháng gian khổ để bảo vệ độc lập, tự do.
Trong số các nhà Thơ Mới viết về Cách mạng Tháng Tám và ngày Quốc khánh 2-9 còn có Vũ Hoàng Chương, người thơ của "Mười hai tháng sáu" đầy buồn bã, bi sầu. Trước ngày vui lớn của dân tộc, nhà thơ cũng cất lên những lời thơ tươi vui, đầy tự hào trong Nhớ về Hà Nội vàng son:
Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!
Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương
Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt
Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô
Xôn xao hành khúc “Xây đời mới”
Tráng khúc du dương “Ngọn Quốc kì”
Tóc bạc má hồng mê vận hội
Cùng trai nước Việt hát “Ra đi”
Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu
Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.
Bài thơ tái hiện một cách sống động, hào hùng không khí lịch sử của ngày 19 tháng 8 năm 1945 - ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội. Qua những vần thơ dạt dào cảm xúc, tác giả gửi gắm tình yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc mãnh liệt trước bước ngoặt vĩ đại của đất nước.
Mở đầu bài thơ là tiếng reo vui ngập tràn niềm tự hào: “Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!”. Từ cảm thán “Ôi” vang lên như sự vỡ òa của niềm hạnh phúc sau bao năm dài nô lệ. Không gian Hà Nội được khắc họa bằng những hình ảnh có sức gợi hình mạnh mẽ: “Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương”. Màu đỏ của cờ cách mạng, màu vàng của ngôi sao năm cánh phủ khắp muôn nơi, tạo nên một biển màu tươi thắm, rực rỡ. Tiếng reo hò không chỉ vang vọng khắp ba mươi sáu phố phường mà còn “Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương”, khẳng định tầm vóc lịch sử và ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, đồng thời lan tỏa niềm tự hào đến bạn bè quốc tế.
Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh Hà Nội trong ngày hội lớn hiện lên vừa cổ kính, vừa rực rỡ sức sống. Tác giả sử dụng phép so sánh khéo léo:
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ.
Những con phố quen thuộc nay biến thành những dòng sông cờ đỏ cuồn cuộn sức mạnh nhân dân. Ngôi sao vàng năm cánh xòe rộng trên năm cửa ô như “hoa vĩ đại” chói lọi, tượng trưng cho ánh sáng tự do, độc lập đang soi chiếu khắp Thủ đô. Không khí ngày hội thêm phần sôi động, sục sôi nhờ sự hòa quyện của âm nhạc và lòng người. Những giai điệu cách mạng như “Xây đời mới”, “Ngọn Quốc kì” vang lên xôn xao, tráng lệ. Mọi tầng lớp nhân dân, từ “tóc bạc má hồng” đến những “trai nước Việt”, không phân biệt tuổi tác, đều hòa chung một nhịp đập, hân hoan hát bài “Ra đi” để đón chào vận hội mới của dân tộc.
Đặc biệt, cảm xúc thơ lên đến đỉnh điểm ở những câu thơ cuối khi lời hô “Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!” cất lên. Lời khẩu hiệu là biểu hiện của lòng kính yêu vô hạn dành cho vị Lãnh tụ kính yêu - “người lính già tiêu biểu” đã dâng hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì giang sơn gạt bỏ tình riêng.
Với thể thơ tự do linh hoạt, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp thơ dồn dập, Vũ Hoàng Chương đã tái hiện một cách sinh động, tráng lệ khung cảnh Hà Nội trong những ngày khởi nghĩa. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm vui, niềm tự hào trước thắng lợi của dân tộc mà còn bộc lộ tình cảm trân trọng, sâu sắc của tác giả đối với một thời kì lịch sử hào hùng, vẻ vang của đất nước Việt Nam.
Hình ảnh Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 lịch sử tất yếu cũng xuất hiện trong thơ Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của nền văn học cách mạng Việt Nam. Theo khảo sát của chúng tôi, những tứ thơ liên quan đến Ngày Quốc khánh trong thơ Tố Hữu không nhiều. Tuy nhiên, mỗi tứ thơ lại đề cập đến những chủ thể, nhân tố quan trọng khác nhau của Ngày Quốc khánh, tạo cho bạn đọc một cái nhìn toàn cảnh về một trong những sự kiện quan trọng bậc nhất trong thế kỉ XX của dân tộc.
Theo tiến trình thơ Tố Hữu, hình ảnh Ngày Quốc khánh “thấp thoáng” trong bài Huế tháng Tám. Trong bài thơ này, Ngày Quốc khánh được Tố Hữu miêu tả gắn liền với hai sự kiện quan trọng.
Thứ nhất là sự kiện vua Bảo Đại thoái vị, đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến kéo dài gần 1.000 năm trong lịch sử dân tộc:
Trên Hương Giang mênh mang đò lạnh ngắt
Tiếng đàn im. Ca kỹ nép phương nào?
Trăng thì thầm chi với sóng lao xao...
Đức Kim thượng đêm nay trong ngọc điện
Ngự lên lầu, trông lên cao xao xuyến
Muôn vì sao... Lạnh lẽo thấm hoàng bào
Người rùng mình, tưởng đứng đỉnh cù lao
Nổi cô độc giữa gió triều biển động.
Đôi gốc đại nghiêng nghiêng tàn lay bóng
Sầu thâm cung vờ vật dưới sân chầu
Người đứng đây. Trăm họ đang về đâu?
Đình thần đó, rầu rầu thân đá trắng
Quá khứ nặng đè xuống đầu cúi lặng...
Một ngai vàng không thể thắng cả giang sơn!
Lòng muôn dân rần rật lửa căm hờn
Máu giải phóng đã sôi dòng nhân loại!
Người phải xuống, đêm nay, đêm chiến bại
Để toàn dân chiến thắng giữ ngôi son!
Người phải lui, cho Dân tiến, Nước còn
Dân là chủ, không làm nô lệ nữa!
Hãy mở mắt: quanh hoàng cung biển lửa
Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao
Mở mắt trông: trời đất bốn phương chào
Một dân tộc đã ào ào đứng dậy!
Có thể nói, Tố Hữu đã rất tinh tế khi khắc họa tâm trạng cô độc, hoang hoải của vua Bảo Đại trong không gian bóng đêm (“đêm nay, đêm chiến bại”), qua đó tạo nên một ẩn dụ rõ nét về sự cáo chung không gì cứu vãn nổi của nhà Nguyễn sau hơn một thế kỉ cầm quyền. Đáng chú ý, ngay trong khổ thơ này, Tố Hữu cũng làm rõ bản chất của chính quyền mới: đó là Nhà nước được nhân dân lập nên, do nhân dân làm chủ; mọi quyền lợi của Nhà nước gắn liền với quyền lợi của nhân dân và đất nước, chứ không chỉ phục vụ sự hưng vong, thịnh suy của một hoàng tộc như trước.
Thứ hai là khí thế cách mạng ngút trời tại Huế trong những ngày tháng Tám lịch sử – dấu hiệu cho thấy Ngày Quốc khánh đã đến rất gần, với biển cờ đỏ sao vàng và lòng người hừng hực:
Hãy mở mắt: quanh hoàng cung biển lửa
Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao
Mở mắt trông: trời đất bốn phương chào
Một dân tộc đã ào ào đứng dậy
Chừ đây Huế, Huế ơi
Xiềng gông xưa đã gãy
Hãy bay lên sông núi của ta rồi...
...
Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời.
Đây đều là những sự kiện có tính bước ngoặt và mang tính biểu tượng cao, liên quan đến Ngày Quốc khánh 2-9. Sự kiện thứ nhất là lời cáo chung của một triều đại cũ; sự kiện thứ hai là lời khẳng định chắc chắn rằng Ngày Quốc khánh được tạo nên từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Ngày 2-9 năm 1946, Tố Hữu viết Vui bất tuyệt, thể hiện niềm vui sướng, tự hào khi đất nước kỉ niệm tròn một năm Ngày Quốc khánh. Bài thơ thể hiện không khí lạc quan, phấn khởi của nhân dân Thủ đô nói riêng và nhân dân cả nước nói chung trong ngày lễ trọng đại. Tâm hồn mọi người như bay lên, hòa cùng màu cờ đỏ sao vàng, hòa cùng nhịp vận động của vũ trụ để cất lên khúc nhạc vui, ngợi ca chiến thắng và đất nước được giải phóng:
Vui quá đêm nay
Ta nhảy ta bay
Trong lòng Hà Nội
Biển sống trào lên thành đại hội
Muôn màu vũ trụ kết hoa đăng
Xôn xao mặt đất, trăng là trăng
Chảy xiết Ngân Hà, muôn sao vàng sáng rực
Mặt trời đỏ huyền kì mọc lên, ôi náo nức
Nhạc nhân gian cuồn cuộn bốc hồng trần
…
Ta hát suốt đêm nay vui bất tuyệt
Trống rung tim ta đập nhịp bồn chồn
Đầu ta qua lớp lớp khải hoàn môn
Hồn ta chạy sáng ngời trên ngọn đuốc
…
Bay bay lên, hỡi đôi cánh thần tiên
Đôi cánh mở của đất trời giải phóng.
Đến bài Bà mẹ Việt Bắc, hình ảnh Ngày Quốc khánh được Tố Hữu gắn liền với hình ảnh người chiến sĩ vệ quốc quân. Người chiến sĩ vệ quốc quân có xuất thân nghèo khổ ấy là một trong những nhân tố làm nên Ngày Quốc khánh. Sau bao năm sống khổ sở dưới ách cai trị tàn bạo của đế quốc, thực dân, những người nông dân hiền lành đã vùng dậy trở thành những chiến sĩ vệ quốc quân, dùng sức mạnh của mình để giải phóng bản thân và đất nước. Trong bài thơ, người chiến sĩ vừa hân hoan, vừa nghẹn ngào thông báo với mẹ về một sự kiện trọng đại vừa xảy ra trong ngày hai mẹ con gặp mặt:
Mắt nó đỏ nọc
Nó cầm tay tôi:
- Mé ơi đừng khóc
Nước độc lập rồi!
Hình ảnh Ngày Quốc khánh cũng xuất hiện gián tiếp trong Ba mươi năm đời ta có Đảng, bài thơ Tố Hữu viết nhân dịp kỉ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng:
Bắc Trung Nam khắp ba miền
Toàn dân khởi nghĩa! Chính quyền về tay!
Lời Đảng gọi, một ngày sấm nổ
Biển người dâng ngập phố ngập đồng
Mùa thu Cách mạng thành công
Mùa thu đây, hỡi cờ hồng vàng sao!
Ôi hai tiếng đồng bào, Tổ quốc
Đến hôm nay mới thuộc về ta
Trăm năm mất nước mất nhà
Hôm nay mới cất lời ca tiếng cười
Ta đã đứng nên người độc lập
Cao bằng người, nào thấp thua ai?
Ở bài thơ này, Tố Hữu thêm một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng đất nước. Theo cách nhìn của nhà thơ, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của Tổng khởi nghĩa trên khắp cả nước, từ đó dựng xây nền độc lập dân tộc.
Tháng 1 năm 1970, Tố Hữu công bố Trường ca Theo chân Bác, sau bốn tháng Bác về với “thế giới người hiền”. Khác với những lần trước, hình ảnh Ngày Quốc khánh 2-9 trong Theo chân Bác được tái hiện trực tiếp và chi tiết:
Hôm nay, sáng mồng Hai tháng Chín
Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ... chim cũng nín
Bỗng vang lên tiếng hát ân tình:
Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!
Người đứng trên đài lặng phút giây
Trông đàn con đó vẫy hai tay
Cao cao vầng trán ngời đôi mắt
Độc lập bây giờ mới thấy đây...
Người đọc Tuyên ngôn… Rồi chợt hỏi:
Đồng bào nghe tôi nói rõ không?
Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!
