Gỡ 'nút thắt' đất nông, lâm trường (kỳ 1)

Nhóm phóng viên Thời sự

Sau nhiều năm sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp, quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm trường trên địa bàn Thái Nguyên vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục xử lý. Ranh giới chưa rõ, hồ sơ đất đai chưa đồng bộ, việc bàn giao và tổ chức sử dụng đất ở một số nơi còn chậm, trong khi hiệu quả khai thác quỹ đất chưa tương xứng với tiềm năng. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai.

Một góc xóm 19, xã Đồng Hỷ, nơi nhiều hộ dân đang sử dụng diện tích đất có nguồn gốc từ Nông trường chè Sông Cầu trước đây.

Một góc xóm 19, xã Đồng Hỷ, nơi nhiều hộ dân đang sử dụng diện tích đất có nguồn gốc từ Nông trường chè Sông Cầu trước đây.

Kỳ 1: Những mảnh đất chờ một danh phận pháp lý

Không ít diện tích đất có nguồn gốc nông, lâm trường đã được người dân sử dụng ổn định qua nhiều năm, hình thành vùng sản xuất và đời sống gắn với đất. Thế nhưng, giữa việc sử dụng thực tế và xác lập quyền pháp lý vẫn còn một khoảng cách. Có nơi doanh nghiệp chưa hoàn tất việc phân định diện tích tiếp tục quản lý; có nơi đất đã được thu hồi nhưng việc bàn giao, tiếp nhận còn dang dở. Những vướng mắc ấy khiến câu chuyện về một “danh phận” rõ ràng cho từng thửa đất vẫn chưa có lời giải trọn vẹn.

Ông Vũ Đình Cam lưu giữ những hợp đồng giao khoán trồng chè được ký kết cách đây 18 năm.

Ông Vũ Đình Cam lưu giữ những hợp đồng giao khoán trồng chè được ký kết cách đây 18 năm.

Hơn 30 năm sau hợp đồng khoán

Nông trường chè Sông Cầu được thành lập từ những năm 1960, gắn với quá trình hình thành vùng chè ở Đồng Hỷ. Sau này, đơn vị đổi thành Công ty Chè Sông Cầu thuộc Tổng Công ty Chè Việt Nam. Nhiều thế hệ công nhân đã sinh sống, làm việc và gây dựng cuộc sống trên đất nông trường.

Khi mô hình sản xuất tập trung bộc lộ khó khăn, quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động dần chuyển từ quản lý trực tiếp sang giao khoán. Tuy nhiên, sự thay đổi về tổ chức sản xuất không đi cùng quá trình xác lập đầy đủ quyền sử dụng đất cho những người trực tiếp canh tác.

Gia đình ông Vũ Đình Cam hiện sử dụng khoảng 2ha đất nhận khoán. Một phần diện tích vẫn trồng chè, phần còn lại được chuyển sang nuôi trồng thủy sản và trồng nhãn, vải, cam, quýt. Người dân phải tự tìm hướng sinh kế phù hợp khi cây chè không còn là nguồn thu duy nhất. Vốn, công sức và rủi ro sản xuất do hộ dân tự gánh, trong khi quyền sử dụng đất vẫn chưa được xác lập đầy đủ.

Theo ông Cam, các hộ công nhân trước đây được cắm khoảng 200m2 đất ở; riêng gia đình ông có cả đất ở và vườn tạp khoảng 800m2. Diện tích sản xuất được giao từ những năm 1990 nhưng bản chất vẫn là giao khoán, không phải giao quyền sử dụng đất. Sau nhiều thập kỷ canh tác, hộ dân vẫn chưa có đầy đủ giấy tờ pháp lý. Khi quyền sử dụng chưa rõ, những quyết định đầu tư dài hạn như cải tạo vườn, thay cây trồng hoặc xây dựng công trình phục vụ sản xuất luôn đi kèm rủi ro.

Những cơ sở vật chất còn lại của nông trường cũ cũng phản ánh khoảng trống trong quản lý đất và tài sản. Ông Cam cho biết: Một số nhà làm việc của các đội sản xuất đã xuống cấp, có nơi mục nát, đổ sập; một số được người dân sửa chữa làm nhà văn hóa. Tuy nhiên, do công trình vẫn nằm trên đất của doanh nghiệp, thủ tục xác lập quyền sử dụng cho cộng đồng chưa hoàn tất.

Đất chưa rõ quyền, sinh kế khó dài lâu

Câu chuyện ở vùng chè Đồng Hỷ không phải cá biệt. Tại xã Nà Phặc, những vướng mắc tương tự cũng đang tồn tại trên các diện tích rừng trồng. Theo số liệu do UBND xã cung cấp, đất của Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn trên địa bàn có hơn 676ha, gồm hơn 453ha rừng tự nhiên, hơn 165ha rừng trồng và hơn 57ha đất chưa có rừng. Diện tích rừng trồng đã ký hợp đồng với các hộ dân là hơn 107ha.

Bà Nguyễn Thị Bình, thôn 3, xã Nà Phặc, đang quản lý và trồng rừng trên hơn 4,9ha nhưng vẫn thuộc nhóm hộ có tranh chấp. Điều gia đình bà mong chờ là việc rà soát cụ thể nguồn gốc đất, quá trình canh tác và mốc giới qua từng thời kỳ. Chỉ khi từng phần diện tích được xác định trên thực địa, quyền lợi chính đáng của người dân và trách nhiệm của doanh nghiệp mới có cơ sở để giải quyết.

Hơn 288ha đất đang do 177 hộ tại các thôn Bản Hùa, Bản Cầy, Nà Khoang và một số khu vực khác quản lý, trồng rừng nhưng được xác định là diện tích lấn chiếm đất doanh nghiệp. Người dân lại cho rằng một phần đất đã được cha ông canh tác từ trước khi hình thành các lâm trường quốc doanh.

Năm 1992, UBND huyện Ngân Sơn cũ khi đó từng giao đất, giao rừng cho các hộ quản lý. Khi Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn được thành lập năm 2001 trên cơ sở sáp nhập sáu lâm trường, việc đo vẽ, cắm mốc và xác định ranh giới chưa có sự tham gia đầy đủ của người dân, từ đó phát sinh chồng lấn.

Bà Nguyễn Thị Bình (bên phải), thôn 3, xã Nà Phặc cho rằng, phần đất gia đình canh tác có nguồn gốc từ trước khi thành lập lâm trường, nay nằm trong diện tích do Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn quản lý.

Bà Nguyễn Thị Bình (bên phải), thôn 3, xã Nà Phặc cho rằng, phần đất gia đình canh tác có nguồn gốc từ trước khi thành lập lâm trường, nay nằm trong diện tích do Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn quản lý.

Ông Hoàng Ngọc Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Nà Phặc, cho biết: Nguyên nhân chủ yếu trong vướng mắc của 177 hộ vẫn là ranh giới chưa rõ. Doanh nghiệp đã cử đại diện phối hợp với địa phương, nhưng người dân chưa đồng thuận với phương án xử lý, trong khi các cấp có thẩm quyền tiếp tục xem xét. Vụ việc vì thế chưa thể khép lại.

Khái niệm “lấn chiếm” cũng cần được làm rõ bằng hồ sơ và thực địa. Chỉ dựa vào bản đồ cũ có thể bỏ sót quá trình sử dụng đất; chỉ dựa vào hiện trạng lại có nguy cơ hợp thức hóa sai quy định. Kết luận cuối cùng phải dựa trên tài liệu về nguồn gốc, thời điểm sử dụng, quyết định giao đất, giấy chứng nhận và mốc giới có thể kiểm chứng.

Tại Nà Phặc, đất rừng là tư liệu sản xuất trực tiếp. Một chu kỳ trồng rừng kéo dài nhiều năm, đòi hỏi người dân bỏ vốn, công chăm sóc và chấp nhận rủi ro thiên tai, thị trường. Nếu tranh chấp chưa được giải quyết, người dân khó mạnh dạn đầu tư; doanh nghiệp cũng khó quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất trên diện tích đã được Nhà nước giao.

Các trường hợp ở Đồng Hỷ và Nà Phặc cho thấy một điểm chung: Mô hình nông, lâm trường đã thay đổi nhưng quan hệ đất đai chuyển đổi chậm hơn. Ranh giới giữa đất doanh nghiệp giữ lại, đất giao về địa phương và đất người dân đang sử dụng chưa phải nơi nào cũng được phân định rõ.

Một số hộ dân thôn 3, xã Nà Phặc trao đổi với phóng viên về những vướng mắc liên quan đến nguồn gốc đất đang sử dụng, kéo dài hàng chục năm chưa được giải quyết dứt điểm.

Một số hộ dân thôn 3, xã Nà Phặc trao đổi với phóng viên về những vướng mắc liên quan đến nguồn gốc đất đang sử dụng, kéo dài hàng chục năm chưa được giải quyết dứt điểm.

Một quỹ đất lớn, nhiều trạng thái quản lý

Đằng sau tranh chấp ở một mảnh đất trồng chè hay một khoảnh rừng là bài toán đất đai có quy mô rất lớn. Sau nhiều lần rà soát, tỉnh Thái Nguyên có khoảng 31.279ha đất của các công ty nông, lâm nghiệp không còn nhu cầu sử dụng, phải bàn giao về địa phương. Tuy nhiên, mỗi đơn vị đang ở một trạng thái khác nhau; thu hồi trên quyết định chưa đồng nghĩa với đất đã có người quản lý, sử dụng rõ ràng ngoài thực địa.

Thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn trước khi sáp nhập đã rà soát, sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp và xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường. Sau sáp nhập, khối lượng hồ sơ, hiện trạng và các vướng mắc này cùng đặt trong phạm vi quản lý của tỉnh Thái Nguyên mới.

Toàn tỉnh hiện có 8 công ty có nguồn gốc đất nông, lâm trường quốc doanh. Hai công ty đã giải thể là Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Chè Phú Lương và Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên lâm nghiệp Võ Nhai.

Kết quả rà soát cho thấy diện tích các doanh nghiệp dự kiến giữ lại sau sắp xếp khoảng 19.672ha; diện tích không còn nhu cầu sử dụng, phải bàn giao về địa phương khoảng 31.279ha. Trong số phải bàn giao, khoảng 26.341ha đã có quyết định thu hồi.

Ba đơn vị đã cổ phần hóa, không thuộc đối tượng sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, gồm: Vinatea Thái Nguyên, Công ty TNHH May Bắc Sơn và Công ty CP Chè Quân Chu. Tổng diện tích sau rà soát của ba đơn vị là 4.767ha; diện tích giữ lại 226ha, diện tích bàn giao về địa phương 4.540ha. Đến thời điểm báo cáo, 4.535ha đã được bàn giao, còn 5ha tiếp tục rà soát.

Đối với 5 công ty thuộc diện sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, tổng diện tích giữ lại khoảng 19.445ha; diện tích dự kiến bàn giao khoảng 26.739ha, trong đó đã bàn giao khoảng 21.806ha. Những con số trên cho thấy khối lượng công việc đã được triển khai khá lớn. Phần còn lại thường tập trung vào những khu vực phức tạp nhất, nơi thiếu hồ sơ, chồng lấn, tranh chấp, giao khoán kéo dài hoặc chưa xác định ranh giới ngoài thực địa.

Cần phân biệt ba bước gồm doanh nghiệp xác định không còn nhu cầu, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi và địa phương lập phương án, giao hoặc cho thuê đất cho người sử dụng cụ thể.

Nếu một trong ba bước chưa hoàn tất, khu đất dễ rơi vào tình trạng đã thu hồi trên giấy nhưng chưa có chủ thể chịu trách nhiệm đầy đủ ngoài thực địa. Quỹ đất lớn vì thế đang đặt ra yêu cầu phải xử lý đồng thời hồ sơ, ranh giới, chủ thể sử dụng và phương án khai thác. Đây cũng là tiền đề để nhìn rõ hơn bài toán riêng của từng doanh nghiệp, từng khu đất trong giai đoạn tiếp theo.

Đến thời điểm này, tỉnh Thái Nguyên có trên 598.380ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng và diện tích đất trồng cây rừng là trên 552.191ha. Tỷ lệ che phủ đến hết năm 2025 đạt 61,7%.

Tuy nhiên, toàn tỉnh còn hơn 269.454ha tại 57 xã, phường phải thực hiện giao rừng, cho thuê rừng; trong đó, trên 96.000ha rừng tự nhiên chưa được giao, chưa cho thuê, chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện do UBND cấp xã tạm thời quản lý; hơn 172.000ha đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa lập hồ sơ giao rừng. Ngoài ra, còn 3.575ha đã giao rừng nhưng chưa hoàn thiện thủ tục đất đai.

 (Còn nữa)

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bình luận