Trầm tích giữa dòng

Kỳ Hoàng 16:34, 23/02/2026

Có những mặt nước không chỉ phản chiếu bầu trời, mà còn giữ hộ ta một phần im lặng đã thất lạc giữa nơi phố thị. Hồ Ba Bể đối với tôi là một cuốn sổ tay của đá và nước, mở ra trang nào cũng lấp lánh những lớp trầm tích: trầm tích địa chất, trầm tích truyền thuyết và trầm tích của lòng người khi biết dừng lại, lắng lại. Tôi đến hồ Ba Bể khá nhiều lần và muốn trở về nơi ấy không phải để đi cho xa, mà để đi cho sâu.

Hồ Ba Bể từ trên cao.
Khu vực hồ Ba Bể.

Thông thường, với nhiều du khách, khi đã đến Cao Bằng, trên đường về họ sẽ ghé Bắc Kạn, nay là tỉnh Thái Nguyên, vì thuận đường. Những cung đường miền núi như những nét bút cong nối tiếp nhau, quẹo một khúc là bình minh, thêm một khúc nữa đã thấy nắng chiều rơi nghiêng trên sườn đá. Nếu Cao Bằng có thác Bản Giốc như một bản nhạc trắng xóa, thì phía Bắc Thái Nguyên giữ chân người bằng hồ Ba Bể, hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, một khoảng xanh rộng đến mức có thể làm dịu cả những cơn ồn ào trong cuộc sống đầy náo động thời nay.

Có người bảo tên Ba Bể bắt nguồn từ việc hồ gồm ba nhánh nối tiếp nhau: Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Có người lại kể rằng vì có ba con sông đổ về, nên nước mà thành tên. Tôi nghe những cách giải thích ấy như nghe nhiều lớp âm thanh vang lên của cùng một mặt nước.

Còn các nhà địa chất thì nói rằng hồ Ba Bể có tuổi khoảng 200 triệu năm, kết quả của những vận động kiến tạo lâu dài, tạo nên một thắng cảnh đặc sắc là hồ trên núi, kèm theo những hang động thạch nhũ như những bức rèm của thời gian.

Đảo Bà Góa - địa danh gắn liền với sự tích hồ Ba Bể.
Đảo Bà Góa - địa danh gắn liền với sự tích hồ Ba Bể.

Đi thuyền trên hồ, tôi không khỏi bâng khuâng. Hai trăm triệu năm trước, nơi đây vắng bóng người. Hàng triệu năm trước, chắc cũng chưa có tiếng nói, chưa có tiếng cười, chưa có những nỗi buồn biết gọi tên. Mặt hồ này đã yên lặng qua hàng trăm triệu năm, chứng kiến những chuyển động chậm rãi của trái đất và cũng chứng kiến những khoảnh khắc lịch sử rất ngắn của con người. Đời sống con người bé nhỏ và ngắn ngủi đến mức chỉ cần đặt cạnh một vách núi là đã thấy mình như một dấu chấm mực trên trang giấy đá.

Nhưng kỳ lạ thay, trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy, con người vẫn kịp để lại những dấu tay mình lên thiên nhiên. Có lúc là dấu tay nâng niu, có lúc là dấu tay vội vã, tham lam. Thiên nhiên không chỉ hiền hòa, im lặng, ngoan ngoãn tuân phục. Thiên nhiên cũng có cách đòi lại sự cân bằng của mình, đôi khi bằng những cơn giận dữ khiến con người tỉnh ra muộn màng.

Truyền thuyết hồ Ba Bể là một câu chuyện tôn vinh lòng tốt, được ghi lại trong công trình văn học dân gian có Giải thưởng Hồ Chí Minh "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam" của học giả Nguyễn Đổng Chi.

Tôi đến Ba Bể vào một ngày hè tháng Bảy, không phải cuối tuần nên thưa vắng bóng người. Những con thuyền nằm chờ khách như đang ngủ, mái chèo gác im lìm, dây neo lỏng lẻo như một tiếng thở dài. Bước chân lên thuyền, tôi yên tâm khi thấy áo phao. Nhìn sang bên cạnh, cũng có thuyền bạn đồng hành, nhưng khoảng cách đủ để mỗi người giữ phần riêng tư của mình giữa mặt nước rộng.

Thuyền đi chầm chậm, dạo một vòng hồ. Hồ dài gần 8km, nhưng cũng có tài liệu nói khoảng 11km, bề ngang chừng 3km, nằm ở độ cao khoảng 145m so với mực nước biển. Người ta nói hồ có khoảng 50 loài cá nước ngọt quý hiếm. Những con số ấy làm tôi vừa yên lòng, vừa bất an. Bởi cũng có những con số khác lạnh lẽo hơn, khoảng vài chục năm trở lại đây, hồ Ba Bể mất đi một phần diện tích; dòng chảy bị bồi lấp, nước có nguy cơ ô nhiễm bởi hoạt động khai thác quặng.

Ao Tiên - điểm đến đẹp ở hồ Ba Bể.
Ao Tiên - điểm đến đẹp ở hồ Ba Bể.

Hồ Ba Bể nằm gọn trong Vườn Quốc gia Ba Bể rộng 7.611ha. Hồ đẹp như một viên ngọc xanh chưa được trau chuốt. Nhưng chính cái vẻ thô mộc ấy lại níu giữ chân người. Trong phạm vi vườn quốc gia có khoảng mười lăm thôn bản, dân số chừng ba, bốn nghìn người, chủ yếu là người Tày, Dao, Mông.

Hai bản Pác Ngòi và Bó Lù nằm sát hồ, phát triển mô hình dịch vụ homestay và đánh bắt cá. Tôi đã từng ở những homestay miền núi, đêm nghe sàn gỗ kêu cót két, sáng nghe gà gáy lạc giọng trong sương. Nhưng ở Ba Bể, động cơ kéo tôi trở lại nơi này không phải tiện nghi, mà là một thứ tiện nghi khác, tiện nghi của sự yên lặng.

Xung quanh hồ vẫn thưa thớt dân cư. Chỉ vài dấu hiệu ít ỏi cho thấy có người sống gần đây, vài ngôi nhà rải rác sát bờ, một người đang thả lưới, vài chú trâu biếng lười dầm nước, vài chú bò đứng thẫn thờ như đang nghĩ hộ con người một điều gì đó chậm rãi.

Mặt nước Ba Bể có một sắc xanh kỳ lạ. Xanh của cây lá ven hồ hòa với sắc trời thiên thanh. Chỗ gần bờ phảng phất đỏ màu phù sa. Nhiều màu xanh, nhiều sắc xanh, như thiên nhiên đang nghịch ngợm pha màu bằng một bảng màu cổ tích. Trời xanh thiên thanh. Nước hồ xanh chàm, trầm buồn và có chút tù đọng như giữ lại những câu chuyện không nói. Lá cây xanh non. Đá núi xanh trầm của năm tháng. Những vách núi cao dựng quanh hồ khiến cây cối mọc dày, um tùm; còn hang động thì mở ra như những cánh cửa bí mật.

Tôi để ý cây ven hồ thường ngả về phía mặt nước. Ít cây vươn thẳng lên cao như muốn chứng minh điều gì đó với bầu trời. Chúng nghiêng về nước, như người ta nghiêng về một người thân quen. Có lẽ với cây, mặt nước là lời rủ rê dịu dàng hơn mọi khoảng cao xa.

Tôi chợt nhớ câu ca dao:

“Bắc Kạn có suối đãi vàng

Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh…”

Câu ca dao ấy làm tôi mỉm cười. “Nàng áo xanh” là ai? Là cô gái Tày đi chợ hay đang chèo thuyền trên mặt hồ? Là một bóng dáng huyền thoại? Hay chính là màu nước, khoác áo xanh lên cả vùng trời vùng núi?

Thuyền đưa tôi qua các vùng hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi xuôi theo dòng sông Năng. Con sông này chảy xuyên qua núi đá vôi Lũng Nham, tạo thành động Puông dài chừng 300m, cao khoảng 30m. Cửa vào động nhìn như hàm cá mập mở rộng, khiến người ta hơi rờn rợn.

Từ trong động nhìn ra, ngoài kia là ánh nắng rực rỡ như một bức màn vàng óng. Đi vào sâu, nền cát ẩm, dòng sông chảy ngầm một bên, mặt nước đen sẫm, sâu hun hút. Nước gần như đứng lặng, không chảy. Cái lặng ấy không phải lặng của sự chết, mà là lặng của tích tụ.

Động Puông không dài và rộng như động Phong Nha, Thiên Đường ở miền Trung, nhưng đủ để người ta tin rằng thiên nhiên có trí tưởng tượng riêng. Nhũ đá treo như những mảnh thời gian đông cứng. Có cột đá như một thân người cúi xuống, có khối đá giống hình con cóc.

Tôi nhìn những hình thù ấy và nghĩ rằng trầm tích giữa dòng, vốn vô tri vô giác, lại khiến lòng người thức dậy. Hàng trăm triệu năm trước, đá đã ở đây. Dòng sông đã ở đây. Còn tôi chỉ là một người khách đi qua, mang theo vài câu hỏi tự vấn nhỏ như hạt bụi.

Khoảnh khắc ngắn ngủi của đời người không là gì so với tuổi dài của núi đá, dòng sông. Có lẽ vì thế mà con người luôn cảm thấy bé nhỏ khi đối mặt với thiên nhiên. Nhưng bé nhỏ không nhất thiết là bất lực. Bé nhỏ cũng có thể là một tư thế đúng mực, tư thế của khiêm nhường, của biết sợ, và biết yêu thương.

Tôi tự hỏi rằng trầm tích giữa dòng là trầm tích của thiên nhiên. Con người có trầm tích không? Tôi tin là có. Có những tình cảm lắng lại theo thời gian, thành một lớp mỏng nhưng bền, như cách phù sa bồi từng chút mà tạo nên bờ bãi. Rời động Puông, thuyền quay về Pé Lù.

Tôi ghé đảo An Mã, một đảo nhỏ xinh như đặt nhẹ lên mặt hồ. Trên đảo có một ngôi đền. Một chiếc cầu nhỏ nối đảo với bờ. Lối lên đền là những bậc thang vắng dấu chân người, cây rủ bóng lòa xòa, mát rượi. Hôm nay chỉ có tôi và vài người bạn vãng lai. Không gian yên ả đến mức nghe được tiếng lá rơi chậm.

Xuyên qua động Puông là đến hồ Ba Bể.
Xuyên qua động Puông là đến hồ Ba Bể.

Đền An Mã mái nâu giản dị, trang nghiêm. Không xô bồ như những “chùa chợ” ở thị thành, không ồn ào xanh đỏ lễ vật, đền nép dưới bóng cây, sân rộng vắng, mái cong cong theo lối kiến trúc quen thuộc miền Bắc. Một tấm bia chữ Hán còn mới ghi bài thơ vịnh đền.

Hoa cỏ quanh đền hoang dã và mỏng manh. Tôi thích cái mỏng manh ấy, vì nó nhắc rằng điều đẹp đẽ không nhất thiết phải phô trương ra, điều thiêng liêng không nhất thiết phải ồn ào.

Ngồi một góc sân đền, bao mệt mỏi tan đi, lòng tôi trầm lại, buồn buồn. Tôi biết chỉ cần đứng lên, bước đi, là bầu không khí thinh lặng này sẽ khép lại sau lưng. Và chỉ cần xuống núi, là lại sa vào chợ đời ồn ào. Hồ Ba Bể, một sáng bình yên, một sáng an lành. Cách đó vài trăm cây số, Hà Nội và Sài Gòn vẫn đang náo nhiệt, vẫn đang gọi tên tôi bằng đủ thứ lịch trình.

Vậy nên tôi đã quay lại miền đất này nhiều lần sau đó. Mỗi lần trở lại, tôi lại đi thuyền trên hồ Ba Bể, như đặt lòng mình xuống mặt nước để nó tự tìm độ sâu. Tôi trở lại để học một bài học cũ mà lúc nào cũng mới, đó là tự biết lắng lại. Biết giữ phần trầm tích của mình giữa dòng đời đang chảy.