Chuyển đổi số 'mở lối' cho hợp tác xã

Thu Hiên 15:32, 26/12/2025

Hiện nay, chuyển đổi số đang từng bước thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp, trở thành động lực quan trọng giúp người nông dân đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tại Thái Nguyên, nhiều hợp tác xã đã tích cực tiếp cận công nghệ theo cách phù hợp với điều kiện thực tiễn, tạo nên những mô hình chuyển đổi số mang lại hiệu quả rõ nét.

Du khách tham quan vườn na của HTX Dịch vụ Nông lâm nghiệp Phú Thượng. Ảnh: T.L
Du khách tham quan vườn na của HTX Dịch vụ Nông lâm nghiệp Phú Thượng. Ảnh: T.L

Từ năm 2023, ngành Nông nghiệp Thái Nguyên đã triển khai ứng dụng công nghệ số trong quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản thông qua phần mềm chuyên dụng, giúp theo dõi vùng trồng, quy trình sản xuất, nhật ký chăm sóc và truy xuất nguồn gốc. Với các phần mềm này, thông tin sản phẩm được minh bạch hóa, tạo niềm tin cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần nâng cao giá trị nông sản trên thị trường.

Tiêu biểu như tại xã Võ Nhai, chuyển đổi số được triển khai gắn với sản phẩm đặc trưng là na thông qua mô hình “Vườn na Võ Nhai trên môi trường số”. Trong đó, Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ Nông lâm nghiệp Phú Thượng giữ vai trò kết nối các hộ trồng na, hướng dẫn kỹ thuật, cập nhật dữ liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên nền tảng số.

Các vườn na tham gia mô hình đều là những vườn cây từ 4 năm tuổi, sinh trưởng tốt, năng suất ổn định. Các hộ được hướng dẫn chỉnh trang vườn, lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm, áp dụng quy trình chăm sóc, rải vụ, sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Quá trình chăm sóc được cập nhật trên phần mềm thông qua nhật ký điện tử, tạo cơ sở cho truy xuất nguồn gốc.

Điểm nổi bật của mô hình là mỗi cây na đều được gắn mã QR định danh, kết nối với hệ thống camera giám sát 24/7. Người tiêu dùng có thể theo dõi từ xa toàn bộ quá trình sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch. Nhờ đó, sản phẩm được minh bạch về chất lượng, đồng thời tạo trải nghiệm mới cho khách hàng. Hiện nay, mỗi cây na số có giá trị khoảng 6 triệu đồng, cao hơn so với cách bán truyền thống.

Cũng được hỗ trợ triển khai mô hình nhật ký điện tử, anh Ma Văn Thống, Giám đốc HTX nông nghiệp Bản Mộc (xã Yên Bình), chia sẻ: Với phần mềm giám sát, mọi hoạt động từ trồng, chăm sóc, bón phân… cho cây chè đều được bà con trong HTX ghi chép đầy đủ trên nền tảng số. Khách hàng có thể dễ dàng quét mã QR để giám sát quy trình. Nhờ vậy, niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm chè Shan tuyết hữu cơ của chúng tôi đã tăng đáng kể.

Mô hình sản xuất chè hữu cơ của HTX nông nghiệp Bản Mộc, xã Yên Bình. Ảnh: T.L
Mô hình sản xuất chè hữu cơ của HTX nông nghiệp Bản Mộc, xã Yên Bình. Ảnh: T.L

Tại HTX Tâm trà Việt (xã Đại Từ), vườn chè hữu cơ có diện tích 2 sào đã được thử nghiệm lắp đặt camera giám sát để khách hàng theo dõi quá trình trồng, chăm sóc từ xa. Các khâu thu hái, chế biến, đóng gói đều được cập nhật dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm. Anh Đỗ Hữu Thuận, Giám đốc HTX, cho biết: Chuyển đổi số giúp sản phẩm minh bạch, tạo niềm tin cho khách hàng. Nhờ vậy, HTX từng bước mở rộng thị trường trên nền tảng số, giảm phụ thuộc vào kênh truyền thống.

Từ những mô hình ban đầu, đến nay, nhiều HTX khác trên địa bàn tỉnh cũng từng bước ứng dụng công nghệ vào sản xuất và tiêu thụ. Sản phẩm được gắn mã QR, bán hàng qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử, livestream giới thiệu sản phẩm. Nhờ đó, nông sản Thái Nguyên không chỉ tiêu thụ tại địa phương mà còn tiếp cận hệ thống siêu thị và đơn hàng ngoài tỉnh.

Ở nhiều nơi, quá trình “số hóa” đã hình thành những bước đi cụ thể: người nông dân sử dụng điện thoại thông minh để ghi nhật ký chăm sóc; áp dụng thiết bị theo dõi độ ẩm, nhiệt độ; lắp đặt camera giám sát sâu bệnh, dịch bềnh. Một số HTX bước đầu thử nghiệm tư vấn bán hàng trực tuyến, hỗ trợ khách hàng trên môi trường số.

Tuy vậy, phần lớn các HTX và hộ sản xuất vẫn gặp không ít khó khăn khi tiếp cận chuyển đổi số. Việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ ở nhiều nơi vẫn mang tính thủ công, giao dịch chủ yếu thông qua thương lái. Người làm nông nghiệp phần lớn đã lớn tuổi, kỹ năng công nghệ hạn chế; hạ tầng Internet chưa đồng bộ. Chi phí đầu tư thiết bị, phần mềm, nhân lực công nghệ vẫn là rào cản lớn đối với các hợp tác xã quy mô nhỏ.

Trong bối cảnh đó, một giải pháp được các chuyên gia đề xuất là xây dựng các HTX kiểu mẫu về chuyển đổi số tại những vùng sản xuất trọng điểm để làm hạt nhân lan tỏa. Đồng thời, khuyến khích lực lượng trẻ tại địa phương tham gia hỗ trợ kỹ thuật, trở thành “cầu nối số” trong chính các HTX.

Có thể nói, chuyển đổi số không làm thay đổi bản chất của nghề nông, nhưng đang từng bước thay đổi cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản. Và nếu được triển khai đúng hướng, chuyển đổi số sẽ tiếp tục là động lực quan trọng giúp các HTX nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển bền vững trong thời đại số.