Qua trao đổi với một số giám đốc doanh nghiệp (DN) về việc thực hiện chủ trương "người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", ngẫm ra mới thấy chúng ta còn bỏ sót quá nhiều thị trường nội địa, trong khi đó sức mua của người dân đâu có phải ít.
Chưa cần nghĩ rộng ra thị trường cả nước, chỉ riêng ở Thái Nguyên, kể sơ sơ cũng có rất nhiều đơn vị lớn, nhỏ, các làng nghề sản xuất rất nhiều mặt hàng: nhóm mặt hàng vật liệu xây dựng có gạch, ngói, xi măng, sắt thép, tấm lợp; nhóm hàng tiêu dùng có sản phẩm may, da giầy, các mặt hàng gỗ gia dụng, mây tre đan; nhóm các mặt hàng nông sản như chè... Cũng nhờ Thái Nguyên là vùng nguyên liệu và là nơi sản xuất các mặt hàng vật liệu xây dựng nên vào thời điểm năm 2008, là lúc khó khăn nhất do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhờ có nguồn nguyên, vật liệu tại chỗ đã tạo điều kiện cho các DN trong tỉnh giảm được chi phí, giảm giá thành sản phẩm, ổn định được sản xuất. Trong các nhóm mặt hàng nêu trên, có những mặt hàng được sản xuất với số lượng lớn, thu hút hàng nghìn lao động như sản phẩm thép, phôi thép của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (CT Gang thép); sản phẩm may của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (Công ty TNG); sản phẩm giầy của Công ty da giầy Thái Nguyên; một số sản phẩm máy nông nghiệp của Công ty cổ phần phụ tùng Máy số I…Thế nhưng, chỉ có sản phẩm thép của CT Gang thép không những được người tiêu dùng trong tỉnh sử dụng nhiều mà còn được tiêu thụ mạnh ở các tỉnh trong cả nước. Còn mặt hàng may mặc, giầy lại chủ yếu xuất khẩu. Mặt hàng máy nông nghiệp chủ yếu lại chỉ tiêu thụ được ở các tỉnh phía Nam. Các nhóm mặt hàng còn lại do số lượng ít nên chủ yếu được tiêu thụ trong tỉnh.
Một cán bộ của Sở Công thương tâm sự với tôi: "Trong đợt tổ chức các phiên chợ kích cầu ở một số xã vùng cao trong tỉnh, chúng tôi thấy sức mua của người dân rất lớn. Thế nhưng, do các DN không nắm được thị hiếu, nhu cầu của người dân nên giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng không gặp nhau. Vì thế, nhiều mặt hàng người dân cần lại không có. Ví dụ như: nhiều người đến chợ cứ hỏi những chiếc kéo để cắt cỏ hay kéo để cắt thịt gà; chiếc máy để băm rau lợn. Với một số sản phẩm may mặc, có DN mang đến phiên chợ những mặt hàng do trong quá trình sản xuất chỉ bị một vài lỗi nhỏ nên không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đành quay về bán ở thị trường nội địa. Vì áo quần may xuất khẩu là cho người nước ngoài mặc nên "quá khổ" so với người Việt
Để kết thúc bài này, tôi xin nêu ý kiến của ông Vũ Dương Bình, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Cương Hoàng Bình: Công ty chúng tôi có tham gia sản xuất một số mặt hàng chủ yếu như chè, đồ gỗ gia dụng. Quan điểm của Công ty là, bên cạnh việc tìm kiếm thị trường ở nước ngoài thì vẫn phải quan tâm đến mở rộng thị trường nội địa. Để đến khi thị trường nước ngoài có khó khăn thì vẫn còn thị trường nội địa. Chiến lược này được Công ty thực hiện từ nhiều năm nay. Vì thế, năm 2008 là năm ảnh hưởng nặng của suy thoái kinh tế, mặt hàng chè xuất khẩu của Công ty bị hạn chế do giá cả bấp bênh, chi phí lớn, Công ty đã tập trung mở rộng thị trường trong nước để tiêu thụ sản phẩm, nên vẫn duy trì sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với doanh thu cao.
Từ đó, chúng tôi nghĩ rằng, đối với các DN cần tiếp cận nhiều hơn thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn, miền núi, vùng cao và phải hướng vào nhu cầu thực sự của người dân để "đáp ứng những gì mà người dân đang cần, chứ không phải mang đến những thứ mà DN đang có". Từ đó phát huy hết năng lực sản xuất để có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về các yếu tố: mẫu mã; chất lượng, giá cả, tính tiện ích của sản phẩm. Hàng hoá sản xuất ra phải có nguồn gốc, xuất xứ, đăng ký thương hiệu - đây chính là yếu tố quan trọng để khẳng định chỗ đứng của hàng Việt
.gif?width=300&height=-&type=resize)

