Nguyễn Thị Minh Thắng là một trong số ít các nhà thơ nữ tiêu biểu của Thái Nguyên, các sáng tác của bà tập trung thể hiện những tâm tư, tình cảm, tình yêu và nỗi cô đơn. Phong cách thơ Minh Thắng mạnh mẽ, cứng rắn, tràn đầy nội lực, tuy giản dị nhưng sâu lắng, ám ảnh. Gần 50 năm sinh sống, học tập và làm việc tại Thái Nguyên, bà đã gửi gắm tình cảm gắn bó thiết tha với xứ trà qua tập thơ “Trà lặng” - tác phẩm đoạt Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh lần thứ 17, giai đoạn 2017-2021.
“Người đàn bà kéo xe bò lên dốc”
Gặp nhà thơ Minh Thắng, ít người tin bà đã sắp bước vào tuổi 70. Trong những tấm ảnh thời trẻ, bà rất đẹp, vẻ đẹp của thanh xuân và sự thanh tú của từng đường nét. Thời gian luôn là kẻ thù của nhan sắc nhưng bà vẫn đang là một phụ nữ đẹp với vóc dáng thon thả săn chắc, khuôn mặt vui tươi nhẹ nhõm, đôi mắt sáng và tiếng nói cười rộn rã. Bất cứ xuất hiện nơi đâu, bà đều lan tỏa năng lượng tích cực, trẻ trung.
Sinh năm 1957 tại Hưng Nguyên, Nghệ An, lớn lên trong chiến tranh, suốt thời ấu thơ quen với hầm hào trú ẩn, tiếng bom rơi đạn nổ, vừa học tập vừa tham gia lao động sản xuất. Tròn 18 tuổi bà tình nguyện nhập ngũ trong đợt tổng động viên cuối cùng, được huấn luyện chiến đấu để sẵn sàng lên đường vào chiến trường miền Nam. Đất nước thống nhất, bà tiếp tục phục vụ trong quân ngũ, trước khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bà đơn vị cử đi học văn hóa để ôn thi đại học.
Thời kỳ đó, Thái Nguyên là Khu công nghiệp hàng đầu của đất nước, cũng là trung tâm giáo dục lớn. Được đến Thái Nguyên học tập, công tác là niềm mơ ước của nhiều thanh niên ưu tú từ khắp mọi miền, nhiều đồng đội cùng đơn vị cũ của bà cũng chọn Thái Nguyên là điểm đến. Với lý do đó, bà xin phép cha mẹ chọn thi và học tại Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, để có cơ hội biết thêm về vùng đất nổi danh trong thơ ca. Tốt nghiệp đại học năm 1983, bà kết hôn với một giảng viên công tác tại một trường đại học ở Thái Nguyên, từ đó xứ Trà trở thành quê hương thứ hai của nhà thơ.
Dù rời quê đã lâu, song không chỉ giọng nói mà cả tính cách đặc trưng của người xứ Nghệ vẫn vẹn nguyên trong con người bà. Thẳng thắn, quyết liệt, mạnh mẽ và quá ư nồng nhiệt, chân thành, tính cách này thể hiện rất rõ trong các sáng tác của bà, cả trong thơ và trong đời thường. Dễ nhận ra một người phụ nữ kiêu hãnh, cứng cỏi, không hề cúi đầu khoan nhượng trước những bất công, không màng danh lợi nhưng đồng thời luôn đối diện với nỗi cô đơn tận cùng, sự yếu đuối của thân phận đàn bà.
Bà thẳng thắn nhìn nhận rằng sự cứng cỏi cùng tinh thần kỷ luật được rèn luyện trong quân ngũ luôn giúp bà làm chủ trong mọi hoàn cảnh, vượt qua mọi khó khăn, biến cố của cuộc đời, cũng là yếu tố quan trọng tạo nét riêng, cá tính trong thơ, tuy nhiên điều này cũng đem đến không ít sóng gió trong cuộc sống đời thường. Đây vừa là thế mạnh cũng là điểm yếu của nhà thơ Minh Thắng.
Kể về quá trình "bén duyên" với văn chương, bà cho biết cha ruột của bà là cụ Nguyễn Văn Mai, thuở nhỏ đi ở cho gia đình một ông đồ hay chữ. Sáng dạ lại ham học hỏi nên cụ rất được chủ nhà yêu quý, thường cho phục vụ trà nước trong các cuộc đàm đạo thơ văn của các nhà Nho trong vùng. Nhờ đó cụ Mai thuộc nhiều thơ phú, thích ngâm thơ, bình thơ, lẩy Kiều. Khi trưởng thành có gia đình riêng, vào những dịp thư nhàn, cụ Mai cũng hay mời những người yêu thích văn thơ trong xóm đến nhà để cùng ngâm thơ, bình thơ. Tình yêu văn chương đã được “di truyền” cho những người con của cụ, vì thế mọi thành viên trong gia đình đều rất yêu thích văn nghệ.
Năng khiếu văn nghệ của nhà thơ được phát huy khá sớm, cùng với ngoại hình xinh đẹp, có chất giọng hay, bà được chọn tham gia đội văn hóa nghệ thuật, thường xuyên luyện tập đi biểu diễn, là cây bút thơ nổi bật trong các số báo tường của đơn vị. Song, để có một tên tuổi Nguyễn Thị Minh Thắng trên văn đàn lại bắt đầu từ một biến cố buồn trong cuộc đời bà. Kết hôn khi đã gần 30 tuổi, có tri thức, có nhiều năm tháng trưởng thành trong quân ngũ, chắc hẳn nhà thơ đã không còn nhiều ngơ ngác, nhiều mộng mơ. Sự gian khổ của thời bao cấp có lẽ cũng không phải là nguyên nhân tan vỡ của gia đình đôi vợ chồng giảng viên đại học, người chồng lịch thiệp tài hoa, người vợ đảm đang vun vén cùng hai đứa con một trai một gái thừa hưởng những nét đẹp của cha mẹ. “Do tính cách không hợp nhau”, cho đến rất nhiều năm sau này, cả với người bạn thân nhất, bà cũng chỉ chia sẻ như vậy về lý do của cuộc ly hôn.
Mắt vẫn sáng bừng lên khi nói về bố của các con mình, giờ chàng sống rất tốt, vợ rất yêu chiều, học trò rất thành đạt. Thậm chí, nhà thơ còn khoe các con đã bàn nhau mua đất để mai sau đặt bố và các mẹ cạnh nhau, rồi cười phá lên rất sảng khoái.
Người phụ nữ bề ngoài cứng cỏi ấy thực ra luôn cố che đậy một tâm hồn rất mong manh, dễ tổn thương. Từ trong tiềm thức, những câu thơ cứ tự bật ra thổn thức, để xoa dịu chính mình, để gửi gắm những nỗi đau không thể chia sẻ với bất cứ ai.
Nhà thơ Minh Thắng cho rằng tập thơ đầu tay “Người đàn bà có đôi chân trần” được viết như vậy, vừa là sự giải tỏa cũng đồng thời là điểm tựa tinh thần để có thể vững vàng bước tiếp để trọn vai trò vừa làm mẹ, vừa làm cha. Những sáng tác đầu tiên thực sự là những lời thở than thân phận, tiếng lòng của người phụ nữ vừa đổ vỡ hôn nhân: Dẫu phút cuối phiên tòa/mẹ vẫn còn có thể/ đòi một phần tài sản để chia/nhưng! Trước con/hai đứa trẻ ngây thơ/tinh khôi quá làm sao xé nổi!/Mẹ đi/tay trắng /trắng tay /Mẹ /người đàn bà kéo xe bò lên dốc/không bàn tay ghé vào kéo đỡ/có người kéo lại… (Bài “Mẹ”, trích trong tập “Người đàn bà có đôi chân trần” ).
“Người đàn bà yêu”
Năm 1991, hàng chục bài thơ chứa chan tâm sự của nhà thơ đã hoàn thành trong thời gian ngắn, bà đã mang khoe một người đồng nghiệp mà bà rất đỗi yêu mến, là nhà thơ, nhà lý luận phê bình đồng thời là giảng viên Khoa Văn, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc - Trần Thị Việt Trung. Lúc này, nhà thơ Trần Thị Việt Trung (bút danh Trần Thị Vân Trung) đã rất nổi tiếng trong và ngoài tỉnh với nhiều tác phẩm được sinh viên và người yêu thơ thuộc lòng hoặc chép trong sổ tay.
Bằng con mắt xanh, nhà thơ Trần Thị Việt Trung đã ngay lập tức đánh giá cao những bản thảo của bà và trở thành người dẫn dắt bà vào “làng thơ”. Hai năm sau đó, Nguyễn Thị Minh Thắng, một tên tuổi còn rất lạ lẫm, đã khiến giới văn học nghệ thuật phải xôn xao bởi giành giải Nhất cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ Bắc Thái năm 1993 với tác phẩm “Tiếng còi tàu”.
Hơn ba mươi năm trên hành trình văn chương kể từ giải Nhất đó, nhà thơ đã từng bước khẳng định tài năng và gặt hái thêm nhiều giải thưởng uy tín của tỉnh và Trung ương, bà cho rằng bài thơ hay không cần vần điệu, không cần lựa chọn từ ngữ hay đẹp nhưng cần ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, rõ tứ thơ, để lại suy tư cho người đọc.
Thơ Minh Thắng thuở ban đầu thực sự là tấm gương phản chiếu con người bà, đúng “chất” người phụ nữ xứ Nghệ ngoài đời: rõ ràng, thẳng băng, không màu mè, càng không uyển chuyển vần điệu hoặc bóng gió ý tứ bởi các thủ pháp nghệ thuật. Những câu thơ mang phong cách đời thường, ngôn ngữ đời thường, như thể nói thế nào thì viết đúng như thế: Em ngã vào anh/như người hành khất/ngã vào manh chiếu trải bên đường/Em- tình yêu người đàn bà/sau chiến tranh trở về như cây lúa nghẽn đòng/bất chợt/mưa/Yêu anh như mẹ/thương anh như chị/Ngày qua/ từng ngày qua/em chỉ còn là cọng rơm/trong bàn tay anh người nông dân/sau vụ thu vứt rối mặt đường*/Em không khóc!/ Chiều chiều/em hong mái tóc/đẫm hương bưởi hương chanh/dịu dàng/đùa bay trong gió/rồi em đợi/đợi/trái tim lại run lên.../Em ngã vào anh! (bài thơ “Người đàn bà yêu”, trích trong tập “Người đàn bà có đôi chân trần” ).
Thật lòng, dù rất yêu quý con người Minh Thắng nhưng tôi không thích cách viết của bà. Tôi sợ nỗi cô đơn đến tuyệt vọng trong thơ bà: Tô Thị!/tôi ghen với nàng/nàng được yêu/được hoá đá chờ chồng/Còn tôi/hoá đá/trong lòng đợi ai/ đợi ai? (bài “Ghen với nàng Tô Thị”, trích trong tập “Người đàn bà có đôi chân trần”), càng sợ sự giằng xé đến cực điểm: Anh đang ở đâu?/ở đâu/ở... đ..â...u...?/ Tiếng gọi khàn vách đá/tiếng gọi va chuông chùa/gióng lên những hồi chuông dài nức nở/gió u u/Tiếng gọi xoáy đêm/đêm như lưỡi dao sắc cứa da thịt/đêm mơn man lưỡi rắn/đêm ầm ào, gió hú những cơn dài/khóc u oa/sao em không khóc!/ Chỉ tiếng nấc trầm của đất/dội lên!.. dội lên!.. dội… lên..!... (“Bài “Anh đang ở đâu? “trích trong tập “Nấc trầm”). Cảm xúc mãnh liệt của tác giả như thanh nam châm hút tâm trạng của độc giả vào từng trang thơ, rất khó thoát ra. Tuy nhiên, điều này lại tạo nên một giọng thơ rất riêng, khó lẫn, ghi đậm dấu ấn thơ Minh Thắng.
Tự bản thân nhà thơ cũng chủ động tìm cách bứt ra khỏi từ trường đó, những năm sau này, cùng với năng khiếu trời cho, bà đã đọc rất nhiều, đọc thơ của các nhà thơ nổi tiếng, đọc thơ của bạn bè, đọc rất nhiều sách lý luận phê bình thơ để tự tìm ra cách diễn đạt chính xác nhất, tạo hiệu quả nghệ thuật nhất. Bà thấy rằng thơ cần có cảm xúc, càng cần có sự chiêm nghiệm, suy tư sâu sắc, sự dằn vặt… Có một số bài tự bật ra, viết nhất nhanh, nhưng bên cạnh đó cũng có một số tác phẩm phải nghiền ngẫm nung nấu cả chục năm mới hoàn thành, đặc biệt là tác phẩm đa tầng đa nghĩa hướng tới chủ đề lớn mang hơi hướng trường ca đòi hỏi phải thực sự có kiến thức về lịch sử, xã hội…
Những tập thơ tiếp theo, bà đã hướng sáng tác vào những chủ đề rộng hơn nhưng vẫn phát huy được sở trường là thơ tình yêu. Đó là những tác phẩm về tình yêu của người phụ nữ thời hậu chiến đã khiến không ít độc giả “bàng hoàng xúc động đến sởn gai ốc bởi những đau đớn đến tột cùng cả thể xác lẫn tâm hồn của những người vợ liệt sĩ ở hậu phương sau chiến tranh” (nhận xét của nhà thơ Triệu Lam Châu).
Về mảng thơ đề tài chiến tranh cách mạng, sở dĩ nhà thơ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, chịu cảnh sơ tán, nhà bị trúng bom, người thân mất vì bom đạn, gia đình, xóm làng đau thương tan nát… những hồi ức đó là nỗi đau, sự đồng cảm thường trực trong sâu thẳm tâm hồn, gặp dịp là trào dâng. Hóa thân vào nỗi đau của những người khác, nhưng đó là cảm xúc thật, trải nghiệm thật của tác giả, vì vậy các tác phẩm rất có sức thuyết phục.
“Giữa bạt ngàn Việt Bắc, đến nơi nào con cũng gặp Cha”
Nói về các tập thơ đã xuất bản, nhà thơ cho rằng tập nào bà cũng thích, mỗi tập là một giai đoạn của cuộc đời với những nỗi niềm riêng, chung. Nhưng bà tâm đắc nhất tập “Trà lặng”, đó là những chiêm nghiệm sau hơn nửa cuộc đời sinh sống và làm việc tại Thái Nguyên, gắn bó với hương vị trà có ngọt có đắng. Bà đã lên ý tưởng làm một tập thơ tri ân mảnh đất này, dồn tâm huyết suốt 5 năm để hoàn thành cuốn sách. “Trà lặng” được viết với một tâm thế thư thái, nhẹ nhàng, tình cảm, thủ thỉ giãi bày tiếng lòng của người con gái đồng thời là một thi sĩ xứ Nghệ đối với mảnh đất Thái Nguyên.
Tập thơ được mở đầu với tác phẩm “Thái Nguyên quê hương tôi” gồm 4 khúc vạm vỡ như một trường ca, thể hiện sự biết ơn mảnh đất: là duyên/là nợ/là nơi gắn bó biết bao ân tình/là vòng tay ấm êm/ đất mẹ ru giấc ngủ yên bình.
Nổi bật trong tập, còn có tác phẩm “Ông Ké Nghệ An", một cách kể chuyện rất độc đáo về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc nói chung cũng như tại ATK Thái Nguyên nói riêng và tình cảm của đồng bào đối với vị Cha già dân tộc: Giờ con lên Việt Bắc/đến An Toàn Khu/nghe mế kể:/Ông già cách mạng mặc áo Nùng/ nói giọng Nghệ An/người trong bản gọi ông Ké/ Người già sờ lên tay/thấy hơi ấm bàn tay ông Ké/con trẻ sờ lên má/thấy hơi ấm nụ hôn của Người/Bác ơi!/Trong tiếng nói bà con Tày, Nùng/con nghe tiếng quê đất Nghệ/ trong hát then, hát lượn/con nghe ví giặm quê mình/con vục xuống dòng suối Lê Nin/nghe dịu mát dòng Lam mải miết/Con đi giữa bạt ngàn Việt Bắc/đến nơi nào con cũng gặp Cha/ông Ké Nghệ An…
Tác phẩm "ông Ké Nghệ An" được viết trong các chuyến thực tế sáng tác tại ATK Định Hóa và di tích lịch sử Rừng Khuôn Mánh nơi ra đời Đội Cứu quốc quân II. Bài thơ được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí và được rất nhiều độc giả yêu thích. Theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu cách mạng Thái Nguyên, nhà thơ như gặp lại hình ảnh kính yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thái Nguyên là quê hương cách mạng, nơi in dấu cuộc đời Bác, cũng đã trở thành quê hương ruột thịt của nhà thơ.
Nhiều năm theo dõi quá trình lao động nghệ thuật của bà, nhà thơ Ma Trường Nguyên, nguyên Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, đánh giá cao thái độ nghiêm túc, niềm đam mê: Tự rút ruột mình cho thơ, để sẻ chia, trao gửi những bài thơ thật sự mang dấu ấn riêng của mình. Thơ Minh Thắng chắc, khoẻ, chân mộc mà chan chứa nỗi niềm của thân phận người phụ nữ, đa cảm mà tràn đầy sắc thái của người con xứ Nghệ đầy nghị lực trong cuộc sống cũng như sự tự vượt mình lên trong sáng tạo thơ. Minh Thắng luôn có ý thức cách tân câu thơ. Nhìn chung, thơ Minh Thắng đang vươn tới xu thế của thơ hiện đại nhưng vẫn giữ được những gì căn cốt của thơ truyền thống, cũng như sự dồn nén cảm xúc trong sự khái quát trí tuệ mà vẫn tươi trẻ hồn nhiên như cuộc sống.
Trong ngôi nhà nhỏ thuộc khu phố sát cạnh Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (thuộc phường Quyết Thắng)- nơi bà công tác cho đến lúc nghỉ hưu, nhà thơ hiện sống cuộc sống bình dị, an nhàn. Hằng ngày bà dành thời gian rèn luyện sức khỏe, gặp gỡ bạn bè, đọc và góp ý tác phẩm cho các bạn thơ, thỉnh thoảng tham gia các Trại sáng tác hoặc các hoạt động văn học nghệ thuật. Gia tài văn chương của bà gồm 7 tập sách đã xuất bản, nhiều giải thưởng. Còn gia tài ngoài văn chương, điều quan trọng giúp cho tuổi già của bà thảnh thơi viên mãn là các con của bà đều trưởng thành, đỗ đạt, đều tu nghiệp ở nước ngoài, các cháu nội ngoại đều giỏi giang, ngoan ngoãn.
Bà nói, cả cuộc đời bà gói gọn trong câu thơ: “Trong tận cùng cơn khát/em tự bật chồi/như cây cỏ mùa xuân”. Trải qua biết bao sóng gió cuộc đời, nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thắng đã chọn “Trà lặng” làm đích đến của mình.
![]() |
hà thơ Nguyễn Thị Minh Thắng Sinh năm: 1957
Quê quán: Hưng Nguyên - Nghệ An
Chỗ ở hiện nay: Phường Quyết Thắng, tỉnh Thái Nguyên
- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên
- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác phẩm:
- Người đàn bà có đôi chân trần - thơ - NXB Hội Nhà văn -2003
- Rét ngọt - thơ - NXB Hội Nhà văn -2006
- Giữ lửa - thơ- NXB Văn hoá Dân Tộc -2010
- Nấc trầm - thơ - NXB Hội Nhà văn -2014
- Trà lặng - thơ - NXB Hội Nhà văn -2020
Giải thưởng:
- Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Cho tập thơ Rét ngọt - 2006
- Giải C Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ Giữ lửa - 2010
- Giải thưởng VHNT tỉnh Thái Nguyên 5 năm (2012-2016): Nấc trầm
- Giải thưởng VHNT tỉnh Thái Nguyên 5 năm (2017-2021): Trà lặng
- Giải Nhất thơ Báo Văn nghệ Bắc Thái - 1993








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin