Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, trong đó có 5 chiến sĩ là con em dân tộc Bắc Kạn và Thái Nguyên (nay là tỉnh Thái Nguyên). Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta cùng tìm hiểu thân thế của các chiến sĩ này.
Ông Hoàng Văn Lường - Kính Phát (1922-1996)
Ông Hoàng Văn Lường (bí danh Kính Phát), dân tộc Nùng, sinh ngày 5/5/1922 tại thôn Quan Làng, xã Đức Vân, Ngân Sơn, Bắc Kạn (nay là xã Ngân Sơn, tỉnh Thái Nguyên). Gia đình ông là cơ sở cách mạng quan trọng ở vùng “trung tâm huấn luyện Việt Minh” Chợ Rã - Ngân Sơn đầu những năm 1943-1944. Anh trai ông, Hoàng Thanh Bảo, là thành viên Việt Minh liên xã và sau này là Trưởng ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Thái.
![]() |
Tháng 4-1944, trong một trận vây giáp của quân Pháp và tay sai tại nhà ông, đồng chí Đồng Văn Bằng, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Chu Trinh (mật danh của tỉnh Bắc Kạn) bị bắn và đã anh dũng hy sinh. Gia đình ông Lường phải bỏ nhà vào rừng lánh nạn. Từ đây, ông Hoàng Văn Lường bắt đầu hoạt động cách mạng, bí mật gây dựng cơ sở và tháng 5-1944 chính thức tham gia tổ xung phong Nam tiến của huyện Ngân Sơn.
Hồi ký của đồng chí Doanh Hằng ghi lại, trong một trận bao vây ở rừng Rùng Vành (Thượng Ân), khi bị ba tên lính chặn đường, Hoàng Văn Lường đã dũng cảm lao vào gạt nòng súng, dùng dao đánh bị thương địch để mở đường rút. Cùng lúc đó, cha ông- cụ Hoàng Văn Xoan vì kiệt sức trên đường chạy đã bị giặc giết hại.
Ngày 22/12/1944, khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại rừng Trần Hưng Đạo, Hoàng Văn Lường là một trong 34 đội viên đầu tiên dự lễ tuyên thệ và tham gia ngay các trận Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau đó, ông trở lại Ngân Sơn hoạt động vũ trang tuyên truyền.
Tháng 11-1945, do mẹ mất và hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông trở về quê. Khi Pháp tấn công Việt Bắc năm 1947, ông được điều làm liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Bắc Kạn. Từ năm 1951, ông nghỉ tại xã Huyền Tụng (Bạch Thông). Trong thời kỳ chống Mỹ, ông nhiều năm làm tiểu đội trưởng dân quân, đội trưởng sản xuất hợp tác xã và được kết nạp Đảng ngày 17/6/1966. Gia đình ông có một người con là liệt sĩ. Ông mất năm 1996, với những đóng góp cho cách mạng, ông được tặng Bằng Có công với nước, Huân chương Kháng chiến chống Pháp và công nhận là Lão thành cách mạng.
Ông Hoàng Thái Sơn (1919-1996)
Ông Hoàng Thái Sơn tên thật là Hoàng Văn Nình, sinh năm 1919 ở Bản Rành, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn (nay là xã Bằng Vân, tỉnh Thái Nguyên), nguyên là lính khố đỏ đóng ở Lạng Sơn. Trong một lần về thăm nhà, Hoàng Văn Nình cùng người anh là Hoàng Văn An và em gái Hoàng Thị Mỳ được đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc này đang hoạt động ở Ngân Sơn giác ngộ. Cả ba anh em bắt đầu tham gia phong trào cách mạng từ đó.
![]() |
Cuối tháng 10-1943, ông Hoàng Văn Nình được giao làm Đội trưởng tự vệ chiến đấu của xã với bí danh Thái Sơn. Tháng 5-1944, khi bị địch bao vây nhà, ông đã nhanh trí chạy thoát. Đồng chí Doanh Hằng hồi tưởng: “…Tốp thứ ba vây nhà Thái Sơn, anh Sơn phát hiện bèn cởi áo trước khi ra cửa, đánh tiếng cô em gái: “Nhớ đặt nồi nước nóng cho anh để đi đồng về còn tắm!”, lính vây nhà thấy thế không cần hỏi nữa. Thế là cả ba anh đều thoát”.
Tháng 5-1944, đội vũ trang thoát ly Ngân Sơn được thành lập, ông Hoàng Thái Sơn làm Đội trưởng. Ngày 22/12/1944, ông là một trong những đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Sau khi tham gia 3 trận Phai Khắt - Nà Ngần - Đồng Mu, ông đi cùng một tổ “Nam tiến” xuống vùng Bắc Kạn, Thái Nguyên.
Tháng 10-1945, ông Hoàng Thái Sơn có mặt trong Chi đội Giải phóng quân đầu tiên Nam tiến vào Nam Bộ. Một thời gian sau, ông trở về quê làm Huyện đội trưởng, rồi được biệt phái sang hoạt động ở Lào. Năm 1963, ông được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148. Tháng 6-1964, ông quay lại hoạt động trên đất bạn Lào cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông về nghỉ hưu tại thị xã Bắc Giang (cũ) với quân hàm thượng tá, ông qua đời năm 1996. Với những đóng góp của mình, ông được tặng nhiều huân chương cao quý.
Ông Bế Ích Nhân (1913-1983)
Ông Bế Ích Nhân bí danh là Bế Ích Vạn, quê ở Vân Tùng, Ngân Sơn, Bắc Kạn (nay là xã Ngân Sơn, tỉnh Thái Nguyên), vốn là lính dõng, được ông Hoàng Thịnh giác ngộ từ năm 1943, ông Bế Ích Nhân âm thầm hoạt động cho cách mạng trong hàng ngũ địch.
![]() |
Ông Doanh Hằng ghi lại trong hồi ký: Trước những ngày này (1944), Toàn quyền Đông Dương đi kinh lý từ Hà Nội lên Cao Bằng, xuống Bắc Kạn. Đồng chí Bế Ích Nhân lính dõng xã Vân Tùng được lệnh xuống Nà Phặc tập trung đón quan. Trên đường đi được 6 ki-lô-mét đến gần đỉnh đèo Gió, đồng chí xé nát quần áo và nón lính, giả làm bị bắt cóc, rồi mang súng cùng đồng chí Đồng Tâm (Lý Văn Sủi) đi bí mật. Bọn chúng đã báo động, canh gác khắp các xã toàn châu. Trong báo cáo sự việc này tên Công sứ Bắc Kạn đã nhận định như sau: "Tình hình thế giới lúc này có lợi cho tuyên truyền cộng sản, vì thế mà tầng lớp trung gian đã ngả theo cộng sản như lính dõng Nhân đã giả làm bị bắt cóc, thực tế đã vác cả súng đi theo cộng sản".
Ông tham gia lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, góp mặt các trận Phai Khắt -Nà Ngần - Đồng Mu, Nam tiến xuống Bạch Thông và tham gia Tổng Khởi nghĩa. Tháng 9-1945, ông được kết nạp vào Đảng.
Đầu năm 1946, ông Nam tiến cùng Chi đội 3, nhưng do ốm nặng, phải quay lại Bắc. Sau sự kiện Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn (7/10/1947), ông được giao làm Trưởng ban giao liên tỉnh, sau đó làm cán bộ địch hậu tại Ngân Sơn. Hòa bình lập lại, ông công tác tại ngành Thương nghiệp huyện Bạch Thông, nghỉ hưu năm 1971, mất năm 1983. Ông được Nhà nước tặng Bằng có công với nước.
Ông Hoàng Thịnh (1919-1986)
Ông tên thật là Hoàng Văn Củn, sinh năm 1919 tại Đồng Danh, Tràng Xá, Võ Nhai (nay là xã Tràng Xá, tỉnh Thái Nguyên). Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động cách mạng với bí danh Hoàng Thịnh, tham gia du kích Bắc Sơn và Cứu Quốc quân II. Năm 1941, ông được kết nạp vào Đảng và cử đi phát triển phong trào Việt Minh vùng núi Bắc Kạn.
![]() |
Ngày 22/12/1944, ông tham gia lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, chiến đấu tại Phai Khắt, Nà Ngần và phát triển phong trào vũ trang, tuyên truyền ở Nguyên Bình, Ngân Sơn. Từ năm 1945-1947, ông giữ nhiều cương vị quan trọng, chỉ huy Chi đội Độc lập 1 “Nam tiến” và tham gia các hoạt động kháng chiến ở Bắc Kạn, Thái Nguyên. Sau này, ông công tác ở nhiều vị trí lãnh đạo trong ngành nông hội, Trưởng Ty Công an Bắc Kạn, Ủy ban kế hoạch, Viện Kiểm sát tỉnh Thái Nguyên và huyện Võ Nhai, nghỉ hưu năm 1973, mất năm 1986, hưởng thọ 67 tuổi.
Ông Mông Phúc Thơ (1916-1946)
Ông tên thật là Mông Văn Vẩy, sinh năm 1916 tại Tràng Xá, Võ Nhai (nay là xã Tràng Xá, tỉnh Thái Nguyên). Ông Mông Phúc Thơ là biểu tượng của lớp chiến sĩ đầu tiên dựng xây lực lượng. Năm 1935, ông tham gia phong trào cách mạng địa phương, năm 1936 được kết nạp Đảng. Năm 1941, ông là Tiểu đội Trưởng Trung đội Cứu quốc quân II. Tháng 12-1944, được giới thiệu vào Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tham gia lễ thành lập ngày 22/12/1944.
Sau đảo chính Nhật - Pháp (3-1945), ông Nam tiến hoạt động tại Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Mông Phúc Thơ chỉ huy tập kích quân Nhật ở Thái Nguyên, rồi cùng lực lượng hành quân về Hà Nội dự Lễ Độc lập 2/9/1945. Cuối năm 1945, ông chỉ huy Chi đội Giải phóng quân số 1 lên đường Nam tiến, tham gia các trận đánh tại Thủ Đức và Sài Gòn, được chỉ định làm Ủy viên Quân sự của Ủy ban Kháng chiến Đông Nam Bộ. Ngày 8/5/1946, đơn vị bị địch tập kích tại Chiến khu Triềng, ông Mông Phúc Thơ bị bắt, kiên quyết không khuất phục, bị xử bắn tại Ngã Bảy, Phan Thiết. Năm 1959, Nhà nước truy tặng Liệt sĩ, Bằng Tổ quốc ghi công.
Chặng đường 81 năm hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, hình ảnh 34 chiến sĩ đầu tiên, trong đó có 5 người con của tỉnh Thái Nguyên luôn là niềm tự hào sâu sắc của mảnh đất Thủ đô gió ngàn. Những người con ưu tú này không chỉ trực tiếp tham gia các trận đánh, dựng cơ sở cách mạng, mà còn là những biểu tượng sống động về lòng dũng cảm, ý chí kiên cường và tinh thần hy sinh thầm lặng. Câu chuyện về các đồng chí Hoàng Văn Lường, Hoàng Thái Sơn, Hoàng Thịnh, Bế Ích Nhân và Mông Phúc Thơ nhắc nhở chúng ta rằng, tự do và độc lập hôm nay được vun đắp từ những con người đã đi trước.
Thái Nguyên tự hào khi mảnh đất của mình đã góp mặt trong những bước chân đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng, gieo nền móng cho một Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, để các thế hệ hôm nay tiếp tục gìn giữ và phát huy tinh thần cách mạng ấy.











Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin