Tháng cuối năm. Sương sớm Tràng Xá giăng mỏng như một lớp ký ức cũ, những triền đá vôi nhô lên như sống lưng những con thú lớn cuộn mình trong đại ngàn. con đường dẫn vào Khuôn Mánh đưa người ta như ngược dòng thời gian. Rừng vẫn đứng đó, trầm mặc, kiên định lưu giữ dấu chân những người lính Cứu quốc quân II, những con người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
Những người mở đường
Dưới những tán rừng cổ thụ, Khuôn Mánh như một khoang ký ức lặng thầm. Hơn tám mươi năm đã trôi qua, nơi từng chỉ có lá rừng vùi lấp dấu chân người nay đã có nhà trưng bày khang trang, con đường vào di tích được chỉnh trang phẳng đẹp. Nhưng cái chất ban sơ mà rừng gìn giữ suốt bao năm dường như vẫn còn nguyên vẹn, như thể thiên nhiên cố giữ lại những vệt mây bạc để che chở những câu chuyện chưa từng phai cũ.
![]() |
| Rừng Khuôn Mánh, địa điểm thành lập Đội Cứu quốc quân II. |
Những đoàn khách trẻ, học sinh, sinh viên bước trên con đường bê tông vào khu di tích. Có thể họ chưa hiểu hết điều Khuôn Mánh từng cất giữ. Nhưng rừng thì hiểu, đá hiểu và lịch sử, bằng cách nào đó, vẫn âm thầm dẫn dắt mỗi người đến gần hơn với quá khứ.
Trong nhà trưng bày, danh sách 36 đội viên Cứu quốc quân II vào ngày thành lập 15/9/1941 được treo trang trọng. Những gương mặt trong ảnh đen trắng đã nhòe viền, nhưng ánh mắt họ vẫn sáng một cách kỳ lạ. Phần lớn là thanh niên dân tộc ở Võ Nhai, họ bước vào cuộc chiến với hành trang ít ỏi: Vài khẩu súng thô sơ, dao găm tự rèn, những chiếc áo chàm sờn vai. Nhưng họ có thứ quý giá hơn tất cả, đó là lý tưởng lớn và tinh thần dấn thân không do dự.
Trong gian trưng bày, nhiều hiện vật được gìn giữ cẩn trọng: Lá cờ Tổ quốc do đồng chí Hoàng Quốc Việt trao trong lễ thành lập đơn vị; khẩu súng ngắn của đồng chí Chu Văn Tấn, khẩu súng kíp từng theo đồng chí Hà Sơn trong những ngày hoạt động bí mật; chiếc đèn đồng soi đường đưa cán bộ Trung ương đi dự Hội nghị Trung ương 8; bát hương đình Phú Thượng dùng để cất giấu tài liệu; nắm tóc của đồng chí Mùi Phan che giấu thư từ liên lạc năm 1941; cùng tay nải, giảm, túi đựng gạo của Trung đội…
Chỉ cần hình dung bối cảnh, người xem dường như thấy mở ra cả một thời đoạn với những con đường rừng gập ghềnh, căn lán nứa thấp thoáng ánh lửa và những cuộc họp thầm lặng diễn ra giữa tiếng gió quẩn trên sườn núi. Những kỷ vật ấy đơn sơ nhưng lại có khả năng gợi lên một lát cắt lịch sử đủ để người xem chậm lại vài nhịp.
Lịch sử còn ghi: Ngày 15/9/1941, tại khu rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập, gồm 36 cán bộ và chiến sĩ (chủ yếu là con em các dân tộc huyện Võ Nhai). Sau một thời gian, quân số của Trung đội đã lên tới 46 người.
Trong buổi lễ thành lập, đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã trao lá cờ đỏ sao vàng và giao nhiệm vụ cho Trung đội. Ban Chỉ huy Trung đội do đồng chí Hoàng Quốc Việt chỉ định, gồm 3 đồng chí: đồng chí Chu Văn Tấn, Chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Văn Phấn, Chỉ huy phó và đồng chí Nguyễn Cao Đàm, Chính trị chỉ đạo viên.
Sau này, Trung đội Cứu quốc quân II được hợp nhất với các lực lượng vũ trang cách mạng khác trở thành Đội Việt Nam giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
![]() |
| Các chiến sĩ Trung đội Cứu quốc quân II, năm 1944. |
Trung đội Cứu quốc quân II có 5 Tiểu đội, do các đồng chí: Chu Quốc Hưng, Lê Dực Tôn, Hứa Văn Chi (tức Hứa Đình Khánh), Trừ Văn Thoòng (tức Trừ Văn Hoà) và Hà Văn Loi (tức Hà Văn Mạnh) làm Tiểu đội trường. Ngay từ sau ngày thành lập, lực lượng Cứu quốc quân không ngừng phát triển lớn mạnh, mặc dù với trang bị vũ khí còn rất thô sơ, điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn. Nhưng với tinh thần yêu nước, các chiến sĩ của Trung đội Cứu quốc quân II đã dũng cảm xả thân quên mình bước vào cuộc chiến đấu với quân thù, lập nhiều chiến công hiển hách: Đó là trận đánh ở Đèo Bắp, tiêu diệt tên Đức Phú phản động gian ác; trận đánh ở Mỏ Nùng (Lâu Hạ); trận đánh ở Suối Bùn xã Tràng Xá, trận ở Lân Han, trận ở Cây Đa La Hóa...
Ngày 21/3/1945, Cứu quốc quân II cùng với đông đảo quần chúng nhân dân trong huyện đánh chiếm châu lỵ La Hiên, thành lập chính quyền cách mạng huyện Võ Nhai. Đây là chính quyền cách mạng cấp huyện đầu tiên ở Thái Nguyên.
Sự ra đời của Trung đội Cứu quốc quân II là mốc son đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở huyện Võ Nhai cũng như ở tỉnh Thái Nguyên lúc bấy giờ. Tiếng súng đánh địch của Cứu Quốc quân II rung chuyển, tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh cách mạng ở các địa phương lân cận và lan tỏa sâu rộng đến các tỉnh phía Bắc. Cứu quốc quân II thực sự là đội quân cách mạng của Đảng, của Nhân dân, đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tại cánh rừng Khuôn Mánh, họ sống cùng nhau, ăn cùng nhau, luyện quân trong những đêm tối, đọc chỉ thị của Xứ ủy dưới ánh đuốc và bàn kế hoạch phá tề, trừ gian, chống càn. Những trận đánh ở Đèo Bắp, Suối Bùn, Lân Han, Cây Đa La Hóa… giờ chỉ còn lưu lại trong tư liệu và trong ký ức xa dần của những người cuối cùng từng chứng kiến. Nhưng sự quả cảm của Cứu quốc quân II thì vẫn còn đó. Nó hiện lên trong từng câu chuyện được con cháu các chiến sĩ truyền lại, và trong nếp nghĩ mộc mạc mà kiên định của người dân Võ Nhai hôm nay.
Khuôn Mánh - quá khứ vẫn thầm thì
Sau khi được tôn tạo vào năm 2024, Khuôn Mánh trở thành một điểm đến quan trọng của du lịch văn hóa - lịch sử Thái Nguyên. Mỗi năm, hàng nghìn lượt khách tìm về nơi này. Với nhiều người trẻ lần đầu đặt chân lên vùng đất Việt Bắc, những câu chuyện về Trung đội Cứu quốc quân II hiện lên như một nhịp nối giúp họ cảm nhận rõ hơn giá trị của sự dấn thân và lòng yêu nước.
![]() |
Trong sinh hoạt chuyên môn của giới văn nghệ sĩ, nhiều cuộc gặp gỡ và chuyên đề sáng tác đã chọn Khuôn Mánh làm điểm dừng chân. Thi sĩ ngồi dưới tán cây già, lắng tiếng rừng xao động và chợt nghe như vang lại nhịp bước của những người chiến sĩ năm xưa. Họa sĩ lại tìm trong địa hình núi đá những gam màu không trùng lặp, màu của thời gian, màu của sự hy sinh.
Những năm gần đây, một số chi bộ, đoàn thể và nhà trường đưa cán bộ, giáo viên, sinh viên đến Khuôn Mánh để sinh hoạt chuyên đề về truyền thống cách mạng. Trong một chuyến đi thực tế, Đỗ Quỳnh, sinh viên Đại học Thái Nguyên, chia sẻ: “Chúng em đã học về sự ra đời, vai trò của Trung đội Cứu quốc quân II trong sách, nhưng chỉ khi đứng giữa rừng, nhìn những vật dụng của cha anh ngày trước, em mới cảm nhận rõ thế hệ đi trước đã sống và lựa chọn như thế nào”.
Khuôn Mánh không sôi động như những điểm du lịch nổi tiếng khác. Nơi này giữ cho mình một vẻ trầm tĩnh, thứ không khí khiến người ta tự khắc dịu lại mỗi khi bước đến, như tính cách của người Việt Bắc vốn vậy: ít phô bày, ít lời, nhưng họ gìn giữ ký ức bằng một sự mộc mạc nhưng sâu sắc rất riêng.
Tuyến đường vào di tích đã được nâng cấp. Hệ thống cây xanh và biển giới thiệu được bổ sung. Nhà truyền thống hoàn thiện thêm nhiều tư liệu mới. Khi đến Tràng Xá và hỏi các bậc cao niên về Cứu quốc quân II, trong ánh mắt của họ là niềm tự hào về một thời kỳ lịch sử, về những chiến công anh dũng, với lời kể chân thành, chân chất như những con người mộc mạc nơi đây. Bởi trong thâm tâm họ, Khuôn Mánh không phải một “di tích” theo nghĩa xa cách, mà luôn là một phần của cố thổ quê hương.
Với cựu chiến binh - thương binh Lưu Văn Khanh, phường Linh Sơn, cũng vậy. Ông bộc bạch: “Từ nhỏ, chúng tôi đã quen nghe đến những tên tuổi như các ông Chu Văn Tấn, Triệu Khánh Phương. Nhưng càng lớn, càng từng trải, tôi mới thấm thía rằng bên cạnh những người được nhắc tên còn có biết bao con người âm thầm đứng phía sau. Họ không nổi tiếng, nhưng sự hy sinh của họ thì lớn lao vô cùng. Nghĩ đến những con người bình dị ấy, tôi luôn thấy biết ơn, tự hào và xúc động”.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Hà, giáo viên Lịch sử Trường THPT Tràng Xá vẫn đều đặn đưa lớp học của mình lên Khuôn Mánh mỗi dịp đầu năm học. Chị bảo: “Lịch sử không nằm yên trong sách giáo khoa. Nó hiện ra ở tấm thân cây, ở mạch nước, ở từng nếp đất nơi này. Khi học trò đứng giữa rừng, các em nhìn thấy điều mà trang giấy khó nói hết. Và chính lúc ấy, bài học trở thành trải nghiệm, không còn là những dòng chữ phải ghi nhớ”. Không chỉ truyền đạt kiến thức, chị Hà muốn học sinh cảm được cái “hồn” của lịch sử, điều mà chỉ những không gian như ở đây mới giữ trọn vẹn lại được.
![]() |
| Nhà trưng bày - đón tiếp tại Khu di tích. |
Rời di tích vào buổi chiều muộn, ánh nắng cuối năm hắt lên vách núi Khuôn Mánh một màu vàng ấm. Ngày đang tàn mà rừng vẫn xanh. Lịch sử đã lùi xa, nhưng âm vang thì chưa bao giờ nhạt. Có lẽ điều làm Khuôn Mánh đặc biệt không chỉ nằm ở những sự kiện lịch sử từng diễn ra tại đây, mà còn ở cảm giác rất rõ ràng khi đứng giữa không gian này, giúp ta hiểu sâu hơn giá trị của tự do.
Khi cuộc sống hiện đại cuốn con người vào nhịp đi gấp gáp, vẫn cần những nơi để ta có thể dừng lại, nhìn về quá khứ để biết mình là ai và mình đang đi về đâu. Và, Khuôn Mánh là một nơi như thế. Nơi nhắc chúng ta rằng những điều lớn lao thường khởi nguồn từ những điều bình dị: Một chiếc lán giữa rừng, một lá thư giấu trong đuôi tóc, một người nông dân mộc mạc nhưng đầy lòng yêu nước, ba mươi sáu con người đứng cùng nhau trong sương rừng, lập lời thề vì Tổ quốc. Nó cũng nhắc chúng ta rằng sức mạnh của dân tộc không đến từ vũ khí hiện đại, mà từ lòng dân, thứ luôn chảy âm thầm như mạch nước ngầm dưới lòng đất mẹ. Và, lịch sử, dẫu đã trôi xa, vẫn tiếp tục được viết mỗi ngày, bằng những người tìm đến nơi này, bằng những câu chuyện được truyền lại, bằng những trang viết được gieo vào lòng thế hệ sau.
Tháng 12 năm 2025, gió từ Khuôn Mánh thổi xuống chân núi, mang theo hơi lạnh mà vẫn có một chút ấm lạ, như bàn tay ai đó từ hư vô đặt nhẹ lên vai, nhắc ta rằng: “Hãy sống xứng đáng với những người đã mở đường từ đại ngàn này”











Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin