Trong tiến trình vận động của thi ca Việt Nam đương đại, các cuộc thi thơ không chỉ mang ý nghĩa tìm kiếm những tiếng nói nghệ thuật mới, mà còn khẳng định vai trò của văn học trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa, nuôi dưỡng ký ức cộng đồng và củng cố tinh thần dân tộc. Trong dòng chảy thi ca hiện nay, những cuộc thi thơ luôn đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa người sáng tác và độc giả, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa hiện tại và quá khứ.
40 tác giả được trao giải, có 9 nhà thơ nước ngoài
Cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội" do những người dân làng Chùa yêu thơ (quê của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức không chỉ là một sân chơi nghệ thuật mà còn là nơi bồi đắp tình cảm, khơi dậy trong mỗi người niềm tự hào và gắn bó với quê hương, con người và nguồn cội. Đáng chú ý, chỉ trong vòng 4 tháng phát động từ tháng 2/2025-5/2025 cuộc thi đã nhận được hơn 1.500 bài thơ của hơn 500 tác giả ở khắp mọi miền đất nước gửi đến, đặc biệt có nhiều nhà thơ nước ngoài nổi tiếng cũng gửi thơ đến dự thi như: Fernando Rendón (Colombia); Bruce Weigl (Mỹ); Murad Sudani (Palestine); Hilda Twongeirwe (Uganda); Julio Pavanetti (Uruguay); Marius Chelaru (Rumanio); Tưởng Vi Văn (Đài Loan)…
![]() |
| Ban giám khảo cuộc thi đang làm việc, gồm các nhà thơ, nhà văn: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Đương, Đinh Thị Như Thúy, Phạm Lưu Vũ. |
Có thể nói, các nhà thơ trong Ban Giám khảo cuộc thi đã làm việc hết mình, đọc khá kỹ và tranh luận sòng phẳng về các tác phẩm, tác giả. Ngày 2-9 mới đây, Ban tổ chức và Ban giám khảo cuộc thi đã công bố kết quả với 40 tác giải được trao giải thưởng, trong đó có 9 nhà thơ nước ngoài.
Những tác phẩm đoạt giải tại cuộc thi đã phản ánh đa dạng các cung bậc cảm xúc tha thiết, nóng bỏng khác nhau đồng thời khắc họa những chiều kích phong phú của tình yêu quê hương, tình yêu con người và tình yêu nguồn cội.
Thành công của cuộc thi thể hiện rõ nhất qua những tác phẩm đoạt giải với những bài thơ không chỉ chạm đến cảm xúc thăng hoa mà còn gieo vào lòng người những suy ngẫm sâu xa. Tiêu biểu là các bài thơ được trao giải A và B của cuộc thi của các tác giả: Lý Hữu Lương, Trương Xuân Thiên, Trang Thanh, Nguyễn Hoàng Anh Thư, Châu Anh Tuấn, Nguyễn Văn Song, Lê Đình Tiến, Vũ Tuyết Nhung, Khương Thị Mến, Bùi Việt Phương.
Những tác giả này, bằng các thi phẩm của mình, bằng giọng điệu và ngữ điệu riêng, đã góp phần làm nên bức tranh đa sắc về tình yêu quê hương, tình yêu con người. Thành công của cuộc thi chính là việc kiến tạo một “trường diễn ngôn” thi ca xoay quanh mối quan hệ bất khả phân giữa cá nhân với cộng đồng, giữa quê hương với cội nguồn. Qua những tác phẩm đoạt giải trong cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội", ta có thể thấy thơ ca hôm nay vẫn giữ được sứ mệnh cao cả là khơi dậy tình yêu quê hương, tình yêu con người.
Với tác giả trẻ Lý Hữu Lương, đặc điểm nổi bật của anh chính là thi ca bắt đầu từ nguồn cội và sử thi cộng đồng. Hai bài thơ Ngày mẹ sinh tôi và Xin về hiếu thuận với quê hương tiêu biểu cho phong cách thơ giàu màu sắc huyền thoại mang bản sắc dân tộc Dao.
Trong thơ ca đương đại, đề tài quê hương, nguồn cội luôn gợi cảm hứng cho nhiều tác giả. Không chỉ là miền đất chôn nhau cắt rốn, quê hương còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa, là điểm tựa tâm linh trong những biến động của cuộc đời. Bài thơ “Xin về hiếu thuận với quê hương” của Lý Hữu Lương là một khúc ca thấm đẫm hoài niệm, vừa da diết nỗi nhớ, vừa khẳng định đạo lý trở về, hiếu thuận với quê hương là cội nguồn của mình. Sự kết hợp giữa chất liệu dân gian, tín ngưỡng với chi tiết đời sống hiện thực đã tạo ra một thế giới nghệ thuật giàu tính sử thi.
![]() |
| Logo Cuộc thi "Thơ ca & nguồn cội". |
Với tác giả Trương Xuân Thiên, các bài thơ lục bát dự thi của anh lại là biểu tượng hóa của tình yêu và nỗi cô đơn. Trong Đôi mắt, tác giả đã triển khai hình tượng đôi mắt như một trường liên tưởng đa nghĩa, tái diễn hình tượng theo nhịp điệu biến hóa đã làm nên một bản “ngôn ngữ mắt” đầy sức gợi. Còn bài thơ Tử huyền lại xây dựng một huyền thoại hoa, loài hoa “không nở trên nhành” mà chỉ khi rơi xuống mới khai mở duyên lành: “Tử huyền nở giữa lặng câm/ Hương hoa gặp gió biết cầm bàn tay/ Người đời trồng để cầu may/ Ai cô đơn cũng thường hay cầu tình/ Tử huyền nở trước bình minh/ Thường hay mọc ở hành tinh vô hình”. Sự thành công của Trương Xuân Thiên nằm ở khả năng biến trải nghiệm tình cảm thành biểu tượng nghệ thuật, qua đó bộc lộ chiều sâu của tình yêu con người trong sự hòa quyện với huyền thoại và tưởng tượng.
Còn tác giả Trang Thanh thì tìm cách trực diện với nỗi đau và khát vọng hiện sinh như hai câu thơ "rút ruột" mà đau: "Kiếp ấy ai người mua mây trắng/ Về đốt thành tro rải đáy sông". Câu hỏi trong bài thơ Lời nhắn một con cá nhỏ đầy chất siêu thực, nhưng cũng chan chứa u hoài. Phải chăng đó là ẩn dụ cho việc những giá trị đẹp đẽ của quê hương, của tình yêu, của ký ức đang bị hủy hoại bởi thời gian và sự đổi thay. Bài thơ Gửi cha của chị là một trong những tác phẩm có giọng điệu trực diện nhất trong số những bài thơ đoạt giải. Tác phẩm triển khai diễn ngôn về sự mất mát qua chuỗi câu hỏi dồn dập, nhằm kiến tạo một cuộc đối thoại bất thành với người cha đã khuất. Giọng thơ đôi khi chạm đến ranh giới cực đoan của hiện sinh, nhưng chính điều đó tạo nên sức nặng cảm xúc. Có thể thấy, thơ Trang Thanh thành công ở chỗ dung hòa giữa nỗi đau cá nhân và ý nghĩa nhân sinh phổ quát, từ đó khẳng định tình yêu con người trong những giới hạn hữu hạn của tồn tại.
Qua cuộc thi xuất hiện các giọng thơ mới
Một chức năng quan trọng của mỗi cuộc thi thơ là phát hiện các giọng thơ mới cho thi ca đương đại. Một giọng thơ mới đáng chú ý của cuộc thi này là Châu Anh Tuấn khi thơ anh nghiêng về phía triết lý nhân văn và bi kịch tình yêu. Bài thơ Chuỗi cườm của mẹ đặt hình tượng chuỗi hạt như một cấu trúc biểu tượng về thế giới nhân loại. Tất cả tôn giáo, học thuyết, biến cố lịch sử đều được “xâu lại bằng sợi chỉ yêu thương” của người mẹ. Đây là một sáng tạo giàu tính triết học, bởi từ tình yêu nhỏ bé trong gia đình, tác giả đã mở rộng ra khả năng hóa giải những xung đột toàn cầu.
Bài thơ Phẳng lặng của Châu Anh Tuấn lại triển khai một thủ pháp đối chiếu qua hàng loạt mối tình bi kịch (Trương Chi - Mỵ Nương, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Tristan - Y Dơ...). Điệp khúc “thuộc về nhau nhưng không thể cùng nhau” tạo nhịp điệu ám ảnh, làm nổi bật nghịch lý phổ quát của tình yêu. Thơ Châu Anh Tuấn vì vậy vừa mang tính triết luận, vừa thấm đẫm nhân văn, mở ra suy ngẫm về số phận con người trong tình yêu và lịch sử.
![]() |
| Các thành viên Ban giám khảo. |
Với tác giả Nguyễn Hoàng Anh Thư luôn trăn trở với những hoài niệm về bản sắc của quê hương là thành phố Huế. Bài thơ Tôi thích Huế cũ là một bài thơ độc đáo, bởi tác giả không trực tiếp đi vào huyền thoại hay bi kịch nhân sinh, mà lựa chọn khắc họa bản sắc địa phương qua nỗi hoài niệm. Điệp ngữ “Tôi thích Huế cũ” trở thành thủ pháp chủ đạo, tạo nhịp điệu hồi tưởng. Bài thơ thành công trong việc biểu hiện tình yêu quê hương thông qua hồi ức văn hóa và lịch sử, qua đó khẳng định giá trị bền vững của ký ức trong tâm thức dân tộc.
Có thể nói những bài thơ tự do của tác giả Khương Thị Mến trong cuộc thi này đã làm nên một vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ mới với bài thơ Sông Hồng như một biểu tượng cội nguồn, đây là thi phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng thơ gắn bó mật thiết với thiên nhiên và nguồn cội. Hình tượng con sông được triển khai trên nhiều tầng nghĩa, hình ảnh mang tính chất đồng hiện, đã đưa Sông Hồng trở thành dòng chảy biểu tượng của ký ức và tình yêu quê hương.
Nhìn tổng thể, các tác phẩm đoạt giải cao trong cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội" đã kiến tạo một diễn ngôn đa dạng nhưng quy tụ về cùng một điểm chung là khẳng định sự bất khả phân của cá nhân với cộng đồng, của ký ức riêng tư với nguồn cội dân tộc. Nếu Lý Hữu Lương thiên về giọng sử thi huyền thoại, thì Trương Xuân Thiên gợi mở chiều sâu biểu tượng. Nếu Trang Thanh trực diện với nỗi đau hiện sinh, thì Châu Anh Tuấn triển khai tư duy triết luận. Khi Nguyễn Hoàng Anh Thư khơi gợi hoài niệm văn hóa, thì Khương Thị Mến đưa thiên nhiên thành biểu tượng của nguồn cội.
Đóng góp cho sự thành công của cuộc thi này, còn có những lát cắt dư âm tài hoa của các tác giả đoạt giải C và giải Đặc biệt như: Trần Chấn Uy, Hà Hồng Hạnh, Hà Sương Thu, Kiều Duy Khánh, Lâu Văn Mua, Lương Cẩm Quyên, Lữ Mai, Nguyễn Doãn Việt, Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Đức Hậu, Nguyệt Phượng Yên Sơn, Nhiên Đăng, Triều La Vỹ, Vân Phi, Yên Hà, Đỗ Anh Vũ, Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Ngọc Hưng, Viên Nguyệt Ái, Vũ Đức Nguyên, Én Nhỏ.
Chính sự đa thanh,đa dạng ấy đã làm nên thành công của cuộc thi khi khẳng định sức sống của thơ ca trong việc nuôi dưỡng tình yêu quê hương, tình yêu con người và tình yêu nguồn cội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các giá trị truyền thống dễ bị phai mờ, những tiếng nói thơ ca này đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ bản sắc văn hóa và củng cố căn tính dân tộc.
Quê hương là không gian văn hóa tinh thần không thể thay thế
Tình yêu quê hương và con người là mạch nguồn bất tận của thi ca Việt Nam. Nếu trong thơ ca truyền thống, quê hương thường hiện lên qua “lũy tre xanh”, “con đường làng” hay “dòng sông bến nước”, thì trong thơ đương đại, qua cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội" cảm hứng ấy lại được thể hiện qua nhiều cách tân nghệ thuật, bằng những hình ảnh mới mẻ, gắn với ký ức, trải nghiệm và trăn trở cá nhân.
Điều này thể hiện rõ trong các bài thơ được trao giải thưởng của cuộc thi như: Mơ hoang (Hà Hồng Hạnh), Vỏ trấu (Nguyễn Văn Song), Về làng (Vũ Tuyết Nhung), Làng ơi (Lê Đình Tiến), Tản mạn với làng quê (Trần Chấn Uy), Nhớ Y Phương (Nguyễn Đức Hạnh), Định mệnh mưa (Bùi Việt Phương), Gặp từ làng (Lữ Mai) và Cánh chuồn lạc phố (Đỗ Anh Vũ)… đều chung một tiếng nói khẳng định mối dây gắn bó sâu nặng giữa con người với mảnh đất nguồn cội, đồng thời gửi gắm những chiêm nghiệm nhân sinh về thân phận, thời gian và ký ức.
Ở bài thơ Vỏ trấu của Nguyễn Văn Song, quê hương hiện lên từ những điều bình dị nhất như mảnh vỏ trấu. Từ “mảnh trấu vàng rụng rơi”, tác giả khắc họa cả một thế giới ký ức: mồ hôi mẹ đêm canh giã gạo, cánh đồng ngấm mưa phùn, thuyền con chở mùa vụ. Vỏ trấu tuy nhỏ bé nhưng lại gợi cả vòng đời gieo - gặt - giã - sàng của người nông dân. Hình ảnh ấy như một “dấu quê” lưu giữ hồn cốt làng, để từ đó con người “lần theo vỏ trấu tìm về/ gặp mình giữa những tỉnh mê phận người”. Thơ vừa chan chứa chất trữ tình vừa thấm đẫm triết lý khi quê hương không chỉ là địa lý mà còn là căn tính và sự soi chiếu cho mỗi số phận.
Ở bài thơ Về làng của Vũ Tuyết Nhung, biểu tượng quê hương gắn với cỏ, đa, chuông chùa, ruộng đồng. Đặc biệt, làng còn lưu giữ ký ức đau thương của chiến tranh như “máu xương gửi lại Hàm Rồng” nhưng từ mất mát ấy lại nảy sinh sự bao la, bao dung. Trở về làng, con người được xoa dịu, được “sum vầy”, tìm lại sự cân bằng giữa những bộn bề “nhiễu loạn giang hồ”. Quê hương vì vậy vừa là nơi chứa đựng thương tích, vừa là nguồn chữa lành tinh thần.
Ở các tác giả khác, làng quê luôn thao thức trong trong hoài niệm và sự đối sánh tha hương. Bài thơ Làng ơi của Lê Đình Tiến khắc họa một làng quê hoài niệm, nơi cái chết, nấm mộ, bờ mương, bụi tre… trở thành chứng nhân. Tác giả tự vấn mình về món nợ ân tình chưa trả cho mẹ, về nỗi buồn phiêu bạt “một đời long đong”. Điểm đặc biệt là cái nhìn hiện sinh về con người dù đi đâu, cuối cùng cũng “lại về nằm dưới cánh đồng làng ta”. Làng không chỉ là điểm khởi đầu mà còn là nơi kết thúc, vòng đời khép lại trong đất mẹ bao dung.
Trong bài thơ Cánh chuồn lạc phố của Đỗ Anh Vũ, cảm hứng hoài niệm cũng hiện rõ. Hình ảnh “cánh chuồn” vốn gắn với tuổi thơ đồng ruộng bỗng xuất hiện trên vỉa hè thành phố. Đó là một sự “lạc” cả về không gian lẫn tâm trạng khi chuồn chuồn lạc phố, còn con người thì lạc giữa chính quê hương mình khi làng quê ngày càng vắng bóng người. Qua đó, tác giả đặt ra nỗi lo về sự rạn nứt căn cước khi quá trình đô thị hóa khiến con người xa dần cội nguồn.
Ở bài thơ Tản mạn với làng quê của Trần Chấn Uy, quê hương hiện lên sinh động qua vô vàn chi tiết thiên nhiên: cá lóc, chuồn chuồn, ong mật, cây khế, bầy sáo, chim đa đa… Những quan sát tinh tế ấy tạo nên bức tranh làng quê đầy sức sống. Nhưng đằng sau là một tầng nghĩa nhân sinh với sự “oan ức” trong tiếng kêu chim đa đa, “nỗi niềm mất nước” trong tiếng chim cuốc, hay chuyện loài chim bạc ác gửi trứng nhờ loài khác nuôi con. Thiên nhiên vì vậy trở thành ẩn dụ cho kiếp người, cho lịch sử dâu bể của dân tộc. Tình yêu quê hương không tách rời ý thức về đất nước bốn nghìn năm, về truyền thống cha ông.
Còn trong bài thơ Gặp từ làng của Lữ Mai, cũng triển khai quê hương như một không gian văn hóa và lịch sử. Làng hiện lên trong “mồ hôi chảy một liềm trăng”, trong “lũy tre im vời vợi”, trong nhịp thở đất đai. Thơ kết nối những biểu tượng quen thuộc (lúa, sen, tre, mưa) với những suy tư về dòng chảy thời gian, về sự sống và cái chết. Đặc biệt, khổ thơ cuối gợi một triết lý nhân sinh khi làng “chẳng giữ ai, chỉ giữ những buổi chiều”. Quê hương như một miền ký ức vĩnh hằng, không trói buộc nhưng luôn neo đậu con người trong cảm xúc nhớ thương.
Quê hương trong một số bài thơ được trao giải còn là cảm hứng nhân vật và cá nhân hóa nỗi nhớ. Bài thơ Nhớ Y Phương của Nguyễn Đức Hạnh là lời tri ân dành cho nhà thơ người Tày Y Phương. Nhưng qua đó, tác giả cũng bày tỏ tình yêu quê núi. Những hình ảnh “cõng sông xuống kinh kì”, “nhốt đại thụ vào chậu nhỏ” hay “mượn mưa một tấm áo dài” vừa phóng khoáng vừa đau đáu. Đó là bi kịch của tha hương phải đưa núi rừng vào phố thị chỉ thấy chật hẹp và nỗi nhớ biến thành thơ nhưng lại “mặn chát”. Tình yêu quê hương ở đây gắn liền với tình yêu con người, với sự tri âm văn hóa trong việc nhớ một nhà thơ cũng là nhớ đến linh hồn dân tộc vùng cao.
Bài thơ Định mệnh mưa của Bùi Việt Phương lại mang giọng điệu triết luận. Mưa là biểu tượng của thiên nhiên và quê hương khi được đặt vào mối quan hệ với con người tha hóa nơi đô thị. Từ cảm giác lạc lõng giữa “sa mạc mưu mô”, tác giả tìm về cơn mưa như sự cứu rỗi, như “con thuyền lương tri”. Thơ khẳng định chỉ khi “bấu chân vào mặt đất”, con người mới thật sự thuộc về quê hương. Đây là sự kết hợp giữa tình yêu đất mẹ và khát vọng giữ gìn nhân tính.
Nhìn chung, các bài thơ được trao giải của cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội", tuy mỗi tác giả có phong cách riêng, nhưng đều thống nhất ở điểm chung, quê hương là không gian văn hóa - tinh thần không thể thay thế.
Các tác giả luôn nhấn mạnh sự bền chặt của làng quê qua biểu tượng lao động và sự gắn bó với đất đai, rồi mở rộng cái nhìn từ làng quê đến đất nước, từ tự nhiên đến lịch sử. Tình yêu quê hương trong các tác phẩm không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn là tiếng nói chung của cộng đồng, của văn hóa dân tộc.
Đặc biệt, các tác giả của cuộc thi đã đưa vào thơ sự chiêm nghiệm hiện sinh, đối diện với đô thị hóa, chiến tranh, tha hương và những vấn đề rất thời đại để khẳng định quê hương là bản thể, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn. Tình yêu ấy không phải sáo mòn mà là sự hòa quyện giữa ký ức và hiện tại, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thiên nhiên và lịch sử. Qua đó, ta thấy sức sống lâu bền của cảm hứng quê hương, con người trong thơ Việt Nam hôm nay luôn mới mẻ, luôn lay động, và luôn nhắc nhở con người về gốc rễ thiêng liêng của mình.










Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin