Tuổi Hoa số 11 trân trọng giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn "Trốn nắng" của Dương Tiến Đạt. Truyện kể về một buổi trưa hè nắng cháy, ba học trò rời khỏi không khí ngột ngạt của lớp học để tìm kiếm tự do theo cách các em nghĩ ra. Nhưng khi đứng giữa đỉnh đồi trà mênh mông nắng, cảm nhận tự do của gió, của việc uống một bát nước trà xanh nóng bỏng không cần được chủ nhà cho phép thì các em lại nhìn thấy rất nhiều điều. Đó là những điều mà cuộc sống không bắt buộc các em phải hiểu. Dương Tiến Đạt là một cây bút đầy nội lực, biết cất giấu trong mạch nguồn cảm xúc của mình những khái quát cần thiết về mối tương quan giữa hiện thực và nhận thức của con người trong một giai đoạn quan trọng để trưởng thành. Giống như câu nói của Thomas Carlyle, một triết gia, nhà văn, nhà viết sử người Scotland: "Chúng ta sẽ thấy được rất ít, nếu phải hiểu điều ta thấy".
Tuổi Hoa số này còn giới thiệu với bạn đọc tản văn "Những mạch trà chảy trong ký ức" của bạn Đồng Hà Linh. Với chất văn sáng, thuần khiết, giọng tự sự trìu mến, khiêm cung, bạn Linh đã tự hào giới thiệu với chúng ta về mảnh đất Phổ Yên thương mến của mình.
Trong khi xu hướng của rất nhiều bạn trẻ là hướng tới sự tự do trong thơ thì Dương Phương Hoa lại chọn lục bát. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó để hay. Tuổi Hoa số 11 xin giới thiệu tới bạn đọc bài thơ "Màu xanh không ngủ" của bạn Dương Phương Hoa, một trong số những minh chứng về sự tự tin của tuổi trẻ trong ước mơ khám phá sức sáng tạo của bản thân mình.
(Nhà văn Tống Ngọc Hân chọn và giới thiệu)
Trốn nắng
Truyện ngắn của DƯƠNG TIẾN ĐẠT
Mười hai giờ trưa, cái nắng dội thẳng xuống đỉnh đầu, rát như ai hất nước sôi. Không khí đặc quánh, hầm hập. Mùi nhựa đường bốc lên khét lẹt quyện với cái mùi ngai ngái của cỏ cháy hai bên vệ đường, cùng tiếng ve sầu kêu như xé vải, điếc hết cả tai.
![]() |
Chiếc Cub 50 ghẻ của Khuê rên lên hừ hừ để đánh vật với con dốc dẫn vào đồi chè. Cái pô xe nổ phạch phạch, nhả ra từng đợt khói trắng mờ mờ ảo ảo, nhưng chẳng lãng mạn tẹo nào.
- Con lạy mẹ, mẹ giảm ga hộ con cái! Bụi trám đầy mặt con rồi!
Tôi gào lên, tay đập bốp vào vai nó.
Khuê chẳng thèm quay đầu lại, giọng nó át cả tiếng máy nổ:
- Giảm là tụt dốc luôn đó! Nắng muốn điên cái đầu mà mày còn đòi hỏi à?
Tôi tặc lưỡi, kệ xác nó. Tôi rướn người, giơ cái điện thoại lên. Tách! Một tấm ảnh mờ tịt, rung lắc được chụp lại. Nhìn vào màn hình, tôi chỉ thấy cái gáy cháy nắng đỏ au của Khuê và vạt nắng loang lổ đang nhảy nhót trên vai áo nó.
Ngay bên cạnh, một cái bóng trắng lướt qua êm ru, đó là Thương. Con bé đi xe điện, chẳng phát ra tiếng động nào, trông nhàn tênh như đang đi dạo mát. Mặt Thương đỏ bừng như quả cà chua chín, mồ hôi bết mấy sợi tóc mai vào trán, nhưng mắt nó thì cứ híp lại, cười toe toét.
- Hai người bạn của tôi ơi, cố lên!
Thương vừa lướt qua vừa vẫy tay, giọng trong veo nghe mà ghét.
- Mày cứ cười đi, tí hết điện thì đừng có khóc!
Khuê lầm bầm, chân đạp số cạch cạch.Thực ra, chẳng ai muốn lôi nhau ra đường để hành xác vào cái giờ tâm linh này cả, nếu không có một giọt nước tràn ly.
Sáng nay, lớp chúng tôi diễn ra tiết văn của cô Lệ. Khuê ngồi ở bàn trên, gục xuống bàn chợp mắt một tí vì ngộp thở quá. Chỉ thế thôi, nhưng xui xẻo thay, nó bị cô Lệ gọi dậy.
- Chị Khuê, chị đứng dậy đọc thuộc phần ghi nhớ cho tôi!
Khuê đứng dậy, mắt nhắm mắt mở, mồ hôi rịn trên trán. Nó lắp bắp đọc, sai lung tung. Cô Lệ bắt nó đứng suốt tiết, kèm theo bài ca muôn thuở về ý thức, về sự vô ơn với cha mẹ. Những từ ngữ ấy, cộng hưởng với cái nóng 39 độ, như những mũi kim châm vào sự kiên nhẫn. Khuê ngồi xuống khi tiếng trống tan học vang lên, mặt đỏ gay vì uất ức.
- Tao muốn đi đâu đó quá. Tao cần oxy!
Nó quay sang tôi và Thương:
- Tao biết một nơi, nghĩ đến là tỉnh cả ngủ!
Thế là chúng tôi đi. Đơn giản là đi để trốn khỏi bốn bức tường sơn vàng, trốn khỏi những khuôn khổ ngột ngạt và lao vào cái chảo lửa bụi mù này không phải để chơi, mà để tìm lại cảm giác mình đang thực sự sống.
Đang leo dốc ngon trớn thì khục! Chiếc xe Cub giật nảy lên một cái rồi tắt lịm, im re. Khuê bóp phanh, chống chân xuống đất, mặt mày méo xệch. Nó nghiến răng, co chân đá bộp một phát vào cái lốp xe đen sì.
- Bố khỉ! Giờ thì hay rồi, dắt bộ lòi kèn thôi!
Nắng vẫn rát mặt. Cái im lặng của buổi trưa hè trên đồi chè thanh vắng làm tiếng thở hổn hển của con Khuê nghe rõ mồn một. Nó quệt mồ hôi đang chảy ròng ròng xuống cổ, dựng chân chống giữa lên, rồi lúi húi lôi trong cốp ra cái tua vít với cái cờ lê để sửa. Trông dáng nó hì hục vặn vặn chọc chọc, mồ hôi nhỏ tong tong xuống đất, vừa thấy thương vừa thấy buồn cười.
Thương đỗ xịch xe bên cạnh, lẳng lặng mở cái túi vải, lôi ra bịch giấy ướt.
- Nào, để yên tao lau mặt cho, không mụn nó biểu tình bây giờ!
Khuê đang cáu cũng phải dịu lại, để yên cho Thương lau mấy vệt dầu luyn dính trên trán, miệng thì vẫn lầm bầm:
- Tao thề, thi xong đại học tao bán cái xe này. Tao thà đi bộ còn nhanh hơn!
- Thôi, uống nước đi bà tướng. Coi như hôm nay được một bữa chạy máy miễn phí đi!
Thương cười, nheo mắt nhìn cái bugi đen thui. Tôi đứng tản ra một góc, dựa lưng vào rào chắn bên đường. Gió đồi thổi thốc tới mang một mùi hương là lạ. Mùi hương ấy không thơm nức nở kiểu hương liệu trà sữa, cũng chẳng thanh tao như trà đạo, mà cứ hăng hăng, xộc thẳng vào mũi. Đó là mùi của nhựa cây đang bị nắng vắt kiệt, quyện với mùi đất đỏ tơi xốp dưới chân.
Tôi nhìn xuống thung lũng xanh rì bên dưới, nghe loáng thoáng tiếng hai đứa kia nói chuyện. Không biết Khuê nói gì mà Thương cười rũ rượi, tiếng cười lanh lảnh va vào vách đồi.
Tôi cười theo, đưa điện thoại lên chụp tách một cái. Trong khung hình, con Khuê vẫn đang nhăn nhó với bàn tay lem nhem dầu mỡ, còn Thương thì vẫn cười tít mắt, nắng nhảy nhót trên mái tóc nâu hạt dẻ. Tiếng cười đùa tan vào gió. Chiếc xe vẫn hỏng, nắng vẫn gắt, nhưng chẳng đứa nào thấy phiền nữa. Dường như ở đây, giữa thiên nhiên bao la này, nỗi lo âu về chuyện học hành hay cái xe hỏng đều trở nên nhẹ bẫng.
Sau gần nửa tiếng đồng hồ hì hục, chúng tôi cuối cùng cũng chịu thua cái xe chết tiệt. Ba đứa rủ nhau táp đại vào hiên của một nhà lợp ngói ngay lưng chừng đồi. Cổng nhà chỉ khép hờ chứ không khóa.
Nhà vắng hoe, chỉ có con chó mực nằm lim dim và một cái chõng tre dưới giàn thiên lý. Trên chõng có sẵn ấm tích ủ trong giỏ tre và mấy cái bát sứ dày cộp. Dày thế mà còn sứt miệng được thì nghĩa là nó đã ở trên chõng tre này lâu lắm rồi.
- Có ai ở nhà không ạ? Cho chúng cháu xin ngụm nước với!
Thương gọi vọng vào. Thế nhưng, đáp lại nó chỉ là tiếng gà cục tác và sự im ắng lạ thường.
- Chắc người ta đi hái chè trên nương rồi. Thôi cứ uống đi, chè người ta để sẵn ngoài hiên thế này chắc để mời khách lỡ đường đấy!
Khuê vừa nói vừa rót ra ba bát nước màu vàng xanh sóng sánh, làm khói bốc lên nghi ngút. Giữa trưa 38 độ mà uống nước nóng đúng là dở hơi. Nhưng ở đây người ta uống thế.
Tôi bưng bát nước trà xanh lên, thổi phù phù rồi nhấp một ngụm. Lập tức, vị chát xít, gai gai quấn lấy đầu lưỡi, như thể vừa nhai sống nắm lá chè tươi. Tôi nhăn mặt, nuốt liều. Nước nóng trôi qua cổ họng, nóng hầm hập. Nhưng lạ thay, chỉ vài giây sau, vị ngọt dịu bắt đầu lan ra, đọng lại nơi cuống họng, át đi hoàn toàn cơn khát khô cháy. Gió từ thung lũng thổi thốc lên hiên nhà. Mồ hôi đang ướt đẫm lưng áo gặp gió, khô đi nhanh chóng, để lại một cảm giác lạnh toát chạy dọc sống lưng.
Thương lúi húi moi trong túi ra hai quả ổi găng xanh lét, chia cho tôi và Khuê mỗi đứa một quả!
- Ổi vườn nhà tao đấy, sạch 100%!
Khuê cầm quả ổi, cắn rộp một cái. Nó vừa nhai, vừa nhìn xa xăm ra những luống chè. Đột nhiên, ánh mắt nó dừng lại.
- Chúng mày nhìn kìa!
Tôi nhìn theo. Giữa cái nắng chang chang như đổ lửa, một dáng người nhỏ bé đang cặm cụi giữa những luống chè. Đó là một người phụ nữ, đội nón lá rách vành, lưng đeo gùi tre, mặc áo bảo hộ bạc màu, hai tay thoăn thoắt hái từng búp chè non.
Chúng tôi nhìn nhau, nhìn cái xe Cub cháy bugi, nhìn lại đoạn đường vừa dắt bộ. Có đáng gì đâu để mà than trời trách đất. Những người khổ sở nhất thế gian này, đâu phải là mấy đứa tôi? Ba chúng tôi không đứa nào nói nên lời. Chỉ có cảm giác xấu hổ thì cứ bừng lên, buộc tâm trạng chúng tôi trở về tiết học của cô Lệ, về cội nguồn của cảm xúc bồng bột, dại khờ. Chúng tôi trốn lên đây để tìm tự do ư? Nhìn người phụ nữ bình thản hái chè trong nắng kia, thì thấy, cái tự do của chúng tôi thật là phù phiếm.
Chát thật! Khuê lẩm bẩm. Không rõ là nó đang nói về bát nước chè, miếng ổi xanh, hay về cái cảm giác trong lòng nữa. Không có ai phụ họa dù tất cả đều hiểu cảm giác của Khuê. Hết mùa hè này là lớp 12, rồi đại học. Khi ấy mỗi đứa một nơi, sẽ chẳng còn những trưa trốn học rủ nhau lên đồi chè thế này nữa.Tôi lặng lẽ đưa điện thoại lên.Tách! Tiếng mô phỏng màn trập khô khốc khẽ vang, gói gọn tất cả vào trong một bức ảnh.
- Chụp cái gì đấy? Mày thích dìm tao không?
Khuê quát, nhưng miệng lại cười.
- Ờ. Tao đã có kế hoạch tống tiền những bà già khó tính từ bây giờ rồi!
Tôi đáp, hạ điện thoại xuống, uống nốt ngụm chè đã nguội dưới đáy bát. Vị ngọt hậu vẫn còn đó, dai dẳng mãi không tan.
Mặt trời rớt xuống thung lũng, nắng tắt hẳn. Con đường đất đỏ lúc trưa hành xác bao nhiêu thì giờ chiều chuộng bấy nhiêu. Dốc thoải nên xe cứ thế trôi tuột đi. Chiếc Cub chết máy trượt dốc hoàn hảo, êm ru. Gió chiều thổi ngược lên, mát rượi và khô cong, thổi bay cái nóng hầm hập.
Tôi ngoái lại nhìn. Những đồi chè cứ thế lùi dần, chìm vào màu tím sẫm của hoàng hôn. Những mảng khối đen thẫm im lìm đứng đó, giấu kín câu chuyện ban ngày.
Tự nhiên, tôi thấy cái vị nước chè tươi trong bát sứ sứt miệng sao mà giống tuổi trẻ quá. Nó xốc nổi, chát xít, uống vào có khi sặc, có khi nhăn mặt vì khó nuốt. Nó cũng giống như cái nắng đổ lửa hôm nay, giống như lúc chiếc xe chết máy giữa đường, hay những giận hờn vớ vẩn. Nhưng đến lúc trôi qua cuống họng rồi, đi xa rồi, cái vị ngọt của nó mới thấm và đọng lại ở đấy một cách dịu dàng, êm ái, khiến người ta cứ muốn tặc lưỡi mà nhớ mãi. Chẳng có bài học triết lý nào viết lên bảng, cũng chẳng ai lập tức trưởng thành. Chúng tôi vẫn là những đứa trẻ sợ bị kiểm tra, sợ bị mắng. Nhưng ít nhất, trong lòng chúng tôi đã có một khoảng lặng để thấu hiểu hơn về cuộc đời rộng lớn ngoài kia, để bớt than vãn đi một chút.
Về đến đầu ngõ, ánh đèn đường vàng vọt bật sáng trưng. Tiếng còi xe, tiếng tivi vọng ra ồn ã, kéo tuột ba đứa về thực tại.
Chiếc Cub trôi hết đà, dừng hẳn dưới chân cột điện. Khuê nhảy xuống, mặt mày bơ phờ, lấm lem nhưng ánh mắt lại thỏa mãn lạ kỳ. Nó vỗ bộp vào yên xe."Ôi giời ơi! Mệt ơi là mệt! Xe với chả cộ, thế là mai lại phải cuốc bộ đi học rồi". Nó làu bàu, hì hục dắt bộ cái cục sắt nặng trịch vào cổng, tiếng xích xe khô dầu kêu lạch cạch não nề.
Tôi nhìn theo bóng lưng nó, bật cười mà không đáp. Chỉ thấy vị chát ngọt hình như vẫn còn mắc lại nơi cuống họng, dai dẳng và ấm áp vô cùng.
Những mạch trà chảy trong ký ức
Tản văn của ĐỒNG HÀ LINH
Có những vùng đất không cần phải khoác lên mình vẻ đẹp rực rỡ để khiến người ta nhớ đến. Chúng chỉ nhẹ nhàng thôi, dịu như một buổi sớm không mưa, thoảng như một làn gió không tên. Phổ Yên quê tớ là một nơi như vậy. Không tiếng tăm như những đồi chè Tân Cương, La Bằng, Tức Tranh hay Trại Cài từng đi vào văn thơ, cũng chẳng phủ kín núi đồi một màu xanh bất tận của những nương chè chạy hút tầm mắt. Nhưng chẳng hiểu sao, mỗi lần nghĩ đến quê hương, điều hiện lên đầu tiên trong tâm trí tớ luôn là mùi trà.
Không phải mùi trà trong những chuyến đi ngắm đồi chè, mà là mùi trà trong từng khoảnh khắc nhỏ bé của đời sống. Hương trà lan trong bếp những sáng mùa đông, hơi trà ấm phả lên mặt mỗi chiều bố đi làm về, hay mùi trà thoảng qua hành lang nhà hàng xóm, thứ mùi luôn khiến tớ thấy lòng mình chùng xuống một nhịp.
Hồi nhỏ, tớ thường ngồi bên cạnh bố mỗi khi ông pha trà. Bố không phải người cầu kỳ, nhưng pha trà thì lại cẩn thận vô cùng. Ông tráng ấm, đong trà, rót nước bằng sự chậm rãi như thể đang trò chuyện với từng búp chè. Lúc ấy, tớ chỉ nghĩ đó là nét thói quen của người lớn. Mãi sau này, khi đã đủ lớn để biết mỗi người có một cách giữ gìn ký ức, tớ mới nhận ra, với bố, trà là cách níu lại bình yên.
Có một kỷ niệm mà tớ nhớ mãi. Một lần, khi tớ học cấp 2, bố về muộn, vẻ mặt hơi mệt. Ông bảo, hôm nay đường đông và dài ghê. Rồi ông rót chén trà đầu tiên, hít nhẹ một hơi và nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra, ánh nhìn đã mềm hơn. Tớ hỏi bố. Uống trà có thể hết mệt thật à bố? Bố cười. Không hết mệt, nhưng dễ chịu như người vừa đặt xuống một gánh nặng con ạ. Lúc đó, tớ chưa hiểu hết ý bố. Nhưng càng lớn, tớ càng thấm.
Học cấp 3, tớ chứng kiến nhiều hơn cách người Thái Nguyên sống với trà. Ở Phổ Yên, những quán trà nhỏ không dùng biển hiệu rực rỡ. Chỉ cần một bàn gỗ, vài chiếc ghế nhựa, một ấm nước luôn sẵn lửa, thế là đủ. Buổi sáng, các bác công nhân ghé lại, uống vội một chén trước giờ vào ca. Trưa, mấy bác lái xe lại tụm vào kể chuyện đường dài. Chiều đến, quán nhỏ thành chỗ trú chân của học sinh chúng tớ, những đứa mải kiểm tra, mải bài tập, mải chạy đua điểm số. Ngồi xuống trước một bình trà nóng, mọi thứ như dịu đi. Chúng tớ bật cười vì những bài kiểm tra lộn xộn, tâm sự về những nỗi lo không tên của tuổi 17, chia nhau chiếc bánh mì ổ chỉ còn một miếng cuối. giữa làn hơi trà mỏng, tụi tớ thấy mình gần nhau hơn.
Cô Hòa chủ quán, một người phụ nữ hiền lành, luôn bảo. Trà Thái dựa vào nước nóng nhưng dựa nhiều hơn vào lòng người uống. Có những hôm lạnh buốt, tớ mang theo chai trà nóng cô Hòa ủ cho. Và lạ thay, chỉ một ngụm thôi mà lòng lại ấm đến kỳ lạ, cái ấm của cảm giác được quan tâm, được thuộc về. Tớ từng nghĩ chỉ những đồi chè nổi tiếng mới có quyền đại diện cho thương hiệu Trà Thái Nguyên. Nhưng một lần, trong giờ học ngoại khóa, tớ được nghe chú Hoàng, một nghệ nhân trà lâu năm, chia sẻ. Người Thái Nguyên không cần phải sống ở đồi chè mới hiểu được trà. Vì trà không chỉ lớn lên từ đất, mà lớn lên từ con người.Câu nói ấy làm tớ suy nghĩ suốt nhiều ngày.
Phổ Yên không có những đồi chè bạt ngàn, nhưng có những người luôn giữ thói quen pha trà mỗi sáng. Có những người như bố tớ, uống trà để trấn an lòng mình sau một ngày dài. Có những bà mẹ mang tặng hàng xóm gói trà thơm mỗi dịp Tết về. Có những gánh hàng rong bán nước chè xanh quanh các cổng trường. Có những quán trà nhỏ, nơi câu chuyện người với người lặng lẽ được viết tiếp. Và quan trọng nhất, có những đứa học trò như tớ, lớn lên trong mùi trà quen thuộc, để rồi một ngày nhận ra đó là một phần của ký ức.
Một chiều Chủ nhật, tớ theo mẹ lên chợ mua đồ. Tới gian hàng bán trà, mẹ lựa từng gói một rồi hỏi tớ. Con thấy mùi này quen không? Tớ gật đầu. Quen từ hồi con còn rất bé. Mẹ cười, bảo. Quen là đúng. Trà là thứ chúng ta luôn có ở đó, giống như quê hương vậy. Câu nói ấy làm tớ lặng đi. Quê hương, đúng thật, đôi khi không nằm trong những vẻ đẹp lớn lao, mà nằm trong những hơi ấm nhỏ nhất. Như gói trà mẹ mua, như ấm trà bố pha, như quán trà nơi chúng tớ hay ngồi lại sau buổi học mệt nhoài. Hóa ra, tớ không cần phải sống giữa những đồi chè để mang trong mình hồn trà Thái Nguyên.Vì “hồn trà” không nằm ở địa điểm. Nó nằm ở cách người ta sống và yêuvùng đất này. Có người nói. Trà Thái Nguyên chát lắm. Tớ lại thấy vị chát ấy giống như tuổi trẻ. Mới đầu tưởng khó chịu, nhưng càng trải qua càng thấy có lý. Tuổi 17 của tớ cũng vậy, có những ngày nước mắt rơi, có lúc thấy lòng đầy lo lắng, có khi cảm thấy chông chênh đến mức chỉ muốn bỏ lại mọi thứ. Nhưng rồi, sau vị chát, luôn là vị ngọt, giống như sau những khó khăn sẽ luôn có một điều gì đó tốt đẹp chờ mình.
Có lần, tớ nói với bạn thân. Chắc vì sống ở Thái Nguyên nên tớ cũng có phần giống trà, mạnh mẽ hơn bên ngoài, nhưng trong lòng lại mềm lắm. Con nhỏ bật cười: Ừ thì… mày đậm vị mà. Tớ cũng cười theo. Có lẽ, chúng tớ đều đậm vị theo cách riêng của mình. Tớ biết có ngày mình sẽ rời Phổ Yên để đi xa, để đến một thành phố lớn hơn, để theo đuổi ước mơ của tuổi trẻ. Bạn bè tớ cũng vậy, đứa muốn làm bác sĩ, đứa muốn làm giáo viên, đứa muốn lập nghiệp tận Sài Gòn hay Đà Nẵng. Chúng tớ rồi sẽ lớn, sẽ đi, sẽ bước vào những thế giới rộng hơn bây giờ. Nhưng trong chiếc vali ngày rời nhà, tớ chắc chắn sẽ mang theo một gói trà Thái Nguyên. Không phải để chứng minh điều gì, mà để mỗi lần pha trà, tớ nhớ rằng mình đến từ một vùng đất bình yên, nơi những điều tử tế, mộc mạc và bền bỉ vẫn đang được gìn giữ từng ngày.Và để nhớ rằng, dù ở đâu, tớ vẫn là cô gái của miền đất trà.
![]() |
| Xanh ngát nương chè. Ảnh: Ngọc Hải |
Có người hỏi tớ. Điều đẹp nhất ở trà Thái Nguyên là gì? Nếu trước đây tớ sẽ nói “hương” hoặc “vị”, thì giờ tớ sẽ trả lời khác. Điều đẹp nhất ở trà Thái Nguyên chính là cách nó dạy người ta sống. Chậm lại một chút. Ân cần hơn một chút. Biết trân trọng những điều nhỏ bé tưởng như vô danh, nhưng giữ cho tâm hồn mình không bị cằn cỗi. Có lẽ vì thế mà dù Phổ Yên không phải xứ đồi chè, thì những mạch trà vẫn âm thầm chảy trong ký ức tớ từ những ngày còn bé đến bây giờ. Chúng chảy qua những năm tháng tuổi thơ, qua những buổi chiều bên ấm trà của bố, qua những ngày mưa ngồi trú trong quán cô Hòa, qua những gói trà mẹ cẩn thận chọn mỗi mùa Tết, qua những câu nói giản dị nhưng đầy yêu thương của những người bình dị nhất. Và tớ tin, những mạch trà ấy sẽ còn tiếp tục chảy, theo tớ đi qua những miền xa, những năm tháng trưởng thành, những lựa chọn của tương lai.
Vì khi một người đã lớn lên trong hương trà của Thái Nguyên,thì hương ấy sẽ theo họ suốt đời.Và tớ biết, dù đi bao xa, chỉ cần ngửi thấy mùi trà Thái Nguyên, tớ sẽ biết mình đã đi đến tận cùng ký ứcvà trở về đúng nơi mình thuộc về.
Dương Phương Hoa
Màu xanh không ngủ
Đồi tròn lại đổ bóng dài
Màu xanh không ngủ, phủ hoài chân mây
Người quê lam lũ tháng ngày
Lượm từng lá nhỏ vun đầy ấm no
Hương trà theo gió dâng cho
Hồn người lữ khách câu thơ dịu dàng
Thơ này đong cả mênh mang
Mà sâu niềm nỗi ngàn trang tuổi đời
Ai mang vị đất xa xôi
Thấm vào mới biết lòng người nơi đây
Giản đơn một ánh mắt gầy
Mà bền như núi, như cây giữa trời









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin