Bức ảnh cũ và bao điều gợi mở

Minh Hằng 12:57, 05/01/2026

Cuộc đời cho tôi may mắn được đến nhiều vùng chè, gặp nhiều người làm chè và uống nhiều chén trà đượm nghĩa tình. Mỗi chuyến đi, mỗi con người để lại trong tôi một dư âm khác biệt. Nhưng có một trường hợp đặc biệt: người ấy chỉ hiện diện trong một tấm ảnh, vậy mà khiến tôi vẩn vơ nghĩ ngợi, rồi cất công đi tìm.

Nghệ nhân Lương Thị Mạn, 73 tuổi, xã Tân Cương sao chè theo phương pháp thủ công truyền thống (ảnh chụp năm 1976)
Nghệ nhân Lương Thị Mạn, 73 tuổi, xã Tân Cương sao chè theo phương pháp thủ công truyền thống (ảnh chụp năm 1976).

Nghĩ lại, tôi vẫn thầm cảm ơn chuyến đi hôm đó - một người đất trà Thái Nguyên như tôi lại về tận Hà Nội để uống trà. Điểm đến không phải quán trà cầu kỳ với “trà nô” khăn đóng áo dài hay “trà nương” bưng chén tay thon như múa. Người đón tôi là nhà báo Hoàng Anh Sướng, nhà văn hóa trà với kho kiến thức khổng lồ về chè. Ở anh luôn có thứ ấm áp khó tả, khiến mỗi cuộc chuyện trò đều trở thành một buổi an yên. Đó là lý do tôi có mặt trong trà thất của anh tại Khu đô thị Times City.

Hoàng Anh Sướng dành tình cảm sâu nặng cho Thái Nguyên. Anh kể về quãng thời gian bố con anh lặn lội ở xã Tân Cương để chọn thế đất, tìm địa chỉ tin cậy đặt hàng đưa về Hiên trà Trường Xuân. Từ bàn trà nhà mình, anh giới thiệu trà Thái Nguyên với bao bạn bè quốc tế. Những lần vinh dự mời trà Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản khi họ sang thăm Việt Nam, hay mời trà tỉ phú Bill Gates trên đỉnh Bàn Cờ (Đà Nẵng), Hoàng Anh Sướng đều dùng trà Tân Cương như một niềm tự hào thầm lặng.

 

Phòng khách của anh được bày biện tinh tế: chiếc hỏa lò đồng, bộ ấm chén cổ, các trà cụ xưa như minh chứng cho mạch trà tiếp nối qua nhiều thế hệ. Giữa những khung ảnh sang trọng, tôi bất ngờ dừng lại trước một tấm ảnh đen trắng. Trong ảnh là một cụ bà tóc bạc xõa dài, đang đảo chè trên chiếc chảo gang đặt trên bếp đất. Sau lưng cụ là căn nhà rách nát, mấy đứa trẻ gầy guộc đứng nép mình. Dòng chữ nhỏ ghi: “Nghệ nhân Lương Thị Mạn, 73 tuổi, xã Tân Cương. Sao chè thủ công truyền thống. Ảnh chụp năm 1976.”

Tôi hỏi:

- Sao em lại treo bức ảnh này? Người trong ảnh có quan hệ gì với em?

Hoàng Anh Sướng đáp:

- Một người bạn tặng em lâu rồi. Em không biết người trong ảnh là ai. Nhưng thấy ảnh đẹp nên giữ lại.

Trở về nhà, hình ảnh cụ bà ấy cứ quanh quẩn trong đầu tôi. Năm 1976, đất nước còn vô vàn khó khăn. Tân Cương chưa có điện, đời sống thiếu thốn. Ở tuổi 73, cụ Mạn vẫn là lao động chính trong nhà; gương mặt hốc hác và đôi tay gầy guộc nói lên tất cả. Cụ cũng là hình ảnh tiêu biểu của phụ nữ vùng chè - những người gắn với bếp lửa, chiếc chảo gang, tạo nên từng mẻ chè, làm nên danh xưng “Đệ nhất danh trà”.

Suy nghĩ mãi về người trong ảnh, tôi quyết định đi tìm. Tôi gặp bà Nguyễn Thị Kim (sinh năm 1955, hiện ở xóm Soi Vàng). Nhìn ảnh, bà nói ngay: “Đây là cụ Mạn, ở xóm Y Na, cách nhà tôi một vườn chè. Cụ tóc dài, dáng tất tả, quanh năm ngoài đồng”.

Bà Kim đưa tôi đến nhà bà Nguyễn Thị Nguyên, con gái cụ Mạn, ở xóm Nam Thái. Vừa nhìn tấm ảnh, bà Nguyên xúc động thốt lên: “Mẹ tôi đây! Gia đình tôi chưa từng nhìn thấy tấm ảnh này”. Bà Nguyên, kể: nhà tôi nghèo “rớt mồng tơi”, thường ăn sắn, củ mài thay cơm. Không có tiền mua chảo to, mẹ tôi chỉ sao được 2 “bò” chè (khoảng 4 lạng) mỗi mẻ. Vườn chè nhà tôi rộng nhưng bỏ hoang vì làm ra không bán được.

Tôi lại tìm đến ông Nguyễn Xuân Lụa, con trai trưởng của cụ Mạn. Ông Lụa đưa tôi về thăm ngôi nhà cũ, nơi cụ Mạn đã sao chè hơn nửa thế kỷ trước. Kỷ vật duy nhất còn là cây nhãn trăm tuổi vẫn tỏa bóng. Ông Lụa bùi ngùi kể: thuở ấy Tân Cương rừng rậm, lau lách bạt ngàn; nhà dân lợp cỏ gianh, vách dựng củi. Bộ đội qua lại thường trú nhờ, cả nhà nhường gian trên để xuống bếp ngủ.

Giờ thì tôi hiểu vì sao một bức ảnh về người xa lạ lại khiến tôi day dứt đến vậy. Qua nó, một Thái Nguyên xưa, một Tân Cương xưa, một lớp người xưa hiện về, thương lắm và yêu quý lắm. Người Thái Nguyên nghèo khó nhưng kiên cường, lam lũ mà bền bỉ, thô sơ nhưng ấm tình người.

 

Tôi cảm nhận rõ sự nối tiếp giữa quá khứ và hiện tại. Mái nhà gianh, chiếc chảo gang, bàn tay tảo tần của người phụ nữ vùng chè… đã trở thành giá trị văn hóa. Từ nương chè xưa đến thương hiệu trà hôm nay là kết quả của sự chịu thương chịu khó, khéo léo và tự hào. Thật đáng mừng khi giữa thời đại máy móc và công nghệ, người Thái Nguyên vẫn trân trọng di sản cha ông để lại.

Tôi lại nghĩ: Những kỷ vật như tấm ảnh này trong mỗi gia đình chắc hẳn còn nhiều. Nếu được giữ gìn như là một giá trị văn hóa, những thứ tưởng chỉ im lặng đều có thể cất tiếng nói, kể về những ngày đã qua một cách sống động và chính xác. 

Tấm ảnh về bà cụ Lương Thị Mạn không chỉ kể một câu chuyện cũ, nó còn nhắc ta về trách nhiệm hôm nay: giữ cho hồn chè, hồn làng nghề, hồn quê còn mãi. Trong quá trình tìm về “ngày xưa ấy”, tôi còn thấy rõ hơn tình yêu của mình dành cho Thái Nguyên, nơi tôi được sinh ra và chưa một ngày ngừng yêu quý.