Đổi mới giáo dục - cần hơn là sự đồng hành

Nguyễn Kiến Thọ 20:14, 23/01/2026

Gác lại một năm cũ bộn bề những chuyện vui buồn về giáo dục, bất giác nhận ra mình đã bước sang năm thứ 36 trong nghề. Trong hành trình được đặt mình bên trong từng câu chuyện dạy học thường ngày ấy, tôi không tránh khỏi những khi phiền muộn trăn trở, thậm chí có khi bức xúc, nhưng ngẫm lại, cái lắng đọng đến giờ vẫn là những cung bậc chia sẻ, thương yêu và trách nhiệm.

Một giờ học tại Trường THCS Tân Long. Ảnh: Ngọc Hải.
Một giờ học tại Trường THCS Tân Long. Ảnh: Ngọc Hải.

1. Tôi có một may mắn lớn khi được trải nghiệm dạy học qua nhiều môi trường, bối cảnh, người học, bậc học khác nhau, ở những giai đoạn nhiều thay đổi: Từ lớp xòa mù chữ trên bản cao đến lớp học trường huyện, từ phổ thông đến đại học và sau đại học, từ giáo dục thường xuyên đến môi trường Sư phạm. Cơ hội ấy cho tôi được mắt thấy, tai nghe, vừa chứng kiến vừa đồng hành biết bao câu chuyện trong dạy học - nghề mà đến giờ tôi cho rằng khó khăn bậc nhất trong các nghề.

Nghĩ lại những năm tháng thầy cô mải miết giảng và đọc, học trò ra sức nghe và ghi chép, thấy bục giảng có những giai đoạn sao mà nặng nề cực nhọc đến vậy. Bây giờ, Chương trình mới (Giáo dục phổ thông 2018) được đưa vào triển khai, một thay đổi về chất, thay đổi từ bên trong, giúp việc dạy học định hình được mục tiêu mới, phương pháp mới, giúp người dạy được phát huy vai trò tổ chức giáo dục đúng nghĩa, người dạy được thực học, khám phá và phát huy. Con đường mà chương trình mới mở ra đã đưa giáo dục đến gần hơn đến những giá trị tiên tiến, điều mà bất kì một xã hội nào muốn phát triển cũng cần nỗ lực hướng tới.

Nhớ lại những năm tháng phải xin ứng trước lương tháng để sửa xe đạp, hăm hở chở học sinh cùng đến trường, bỗng nhận ra hệ số lương của nhà giáo bây giờ đã được xếp bậc cao nhất, không chỉ thấy yên tâm hơn trước áp lực lo toan thường nhật mưu sinh, mà quan trọng hơn là cảm nhận rõ sự ghi nhận trân trọng đẹp đẽ mà xã hội dành cho nghề.

Ngành Giáo dục đang được đón nhận những thay đổi mang tính lịch sử về mặt pháp lý và chế độ đãi ngộ. Điểm tựa lớn nhất chính là Luật Nhà giáo (có hiệu lực đầy đủ từ ngày 01/01/2026), khi lần đầu tiên xác lập một khung pháp lý riêng biệt để bảo vệ và phát triển nghề giáo.

Không chỉ đãi ngộ cao, có chính sách an sinh và bảo vệ nhà giáo, chủ động trong quản lí tuyển dụng đội ngũ, ngành Giáo dục còn khẳng định được tiếng nói tôn nghiêm của nghề - yếu tố nền tảng lẽ ra đã được cất lên dõng dạc từ lâu.

Tất cả những thực tế này khiến tôi, dù trước mắt vẫn còn nhiều chuyện bất như ý trong nghề, nhưng cũng có thể vui mừng nhận ra sự nỗ lực và hướng đi ngày càng cởi mở hơn, thực chất hơn, phát triển hơn của giáo dục. Điều ấy có sự góp sức của từng thầy cô và học trò, của từng người làm giáo dục, đặc biệt là của những người mang gánh nhiều trọng trách với ngành.

2. Bối cảnh đời sống, xã hội đang thay đổi rất lớn, tác động đến giáo dục một cách sâu sắc. Giáo dục Việt Nam đang bước vào một hành trình đổi mới chưa từng có tiền lệ.

Việc xây dựng nền tảng dạy học số, dữ liệu ngành hay ứng dụng công nghệ vào giảng dạy không chỉ là thay đổi một công cụ, mà là thay đổi cả một hệ thống. Những vấn đề như phương thức triển khai chương trình, lựa chọn và sử dụng bộ sách giáo khoa, ứng dụng số, xây dựng dữ liệu ngành,… đều rất mới mẻ, đối diện với những yêu cầu mới phức tạp. Việc gặp những vấp váp trong quá trình này, đối với góc nhìn từ những người đang trực tiếp trải nghiệm trong nghề như chúng tôi, thì hoàn toàn bình thường và dễ hiểu.

Khi chúng ta thay đổi một hệ thống liên quan đến hàng triệu con người, từ học sinh, phụ huynh đến giáo viên, việc xuất hiện những “độ vênh” hay sai sót là điều khó tránh khỏi. Sự chia sẻ và đồng hành mà xã hội hướng về ngành giáo dục chính là “chất xúc tác” quan trọng để những đổi mới không bị đứt gãy.

Đổi mới Chương trình (GDPT 2018) và sách giáo khoa không chỉ là chuyện thay đổi hay lựa chọn cuốn sách, mà còn là thay đổi cả một tư duy dạy học đã bám rễ hàng thập kỷ. Nếu đặt mình trong tâm thế thấu hiểu, chúng ta sẽ thấy giáo viên hiện nay không chỉ dạy chữ mà còn phải là nhà tâm lý, chuyên gia công nghệ và người thiết kế chương trình.

Nếu đặt mình trong tâm thế đồng hành, thay vì chỉ trích khi có những hạt sạn trong sách giáo khoa hay lúng túng trong phương pháp mới, xã hội cần nhìn vào nỗ lực “tự làm mới mình” của các thầy cô để khích lệ. Giáo dục không còn là việc riêng của nhà trường, mà là vấn đề xây dựng hệ sinh thái.

Phụ huynh thay vì đưa con đến trường và chờ kết quả, cần chuyển từ tư thế “khách hàng” sang tư thế “người bạn đồng hành”, cùng con thích nghi với cách học mới, giảm áp lực điểm số. Cộng đồng, doanh nghiệp, xã hội thay vì chờ đợi kết quả từ nhà trường, cần chia sẻ hợp tác thực chất, với những nguồn lực hỗ trợ mà bản thân nhà trường không thể có được. Chỉ có như vậy, chúng ta mới chuyển cái nhìn về trách nhiệm thụ động từ “ngành Giáo dục” sang cái nhìn về trách nhiệm chủ động của “nền giáo dục”.

Việc triển khai chuyển đổi số và xây dựng dữ liệu ngành trong giáo dục giống như việc xây dựng một “đường cao tốc thông tin” trên một nền tảng cũ. Vì là lĩnh vực chưa có tiền lệ, những vấp váp hoặc thiếu đồng bộ là những rào cản mang tính quy luật. Tuy nhiên, thay vì coi đó là thất bại, chúng ta nên nhìn nhận đó là những “phép thử” cần thiết để nhận diện vấn đề một cách hệ thống.

Sự phản biện từ dư luận, nếu dựa trên tinh thần xây dựng và chia sẻ, sẽ là kênh “kiểm định” quý giá giúp ngành Giáo dục điều chỉnh lộ trình sát với thực tiễn. Thay vì tạo ra áp lực nặng nề khiến những người quản lý nảy sinh tâm lý “sợ sai, ngại làm”, sự thấu hiểu từ xã hội sẽ tiếp thêm động lực để họ dám thử nghiệm những mô hình mới. Sự đồng hành lúc này không chỉ là lời động viên, mà là sự kiên nhẫn để cùng ngành Giáo dục kiến tạo một đường đi bền vững.

3. Là một nhà giáo đã nhiều năm được gắn bó với bục giảng, tôi hiểu rằng, đằng sau mỗi chủ trương, mỗi thay đổi về chương trình, sách giáo khoa hay phương pháp dạy học, là hàng triệu giáo viên phải tự làm mới mình, hàng triệu học sinh phải thích nghi, và hàng triệu gia đình chịu tác động trực tiếp.

Đổi mới giáo dục chưa bao giờ là con đường bằng phẳng, nhưng đó là con đường không thể không đi, nếu chúng ta không muốn tụt lại phía sau trong một thế giới đang biến chuyển từng ngày.

Tuy nhiên, điều khiến nhiều nhà giáo chúng tôi day dứt không chỉ nằm ở những khó khăn nghề nghiệp vốn đã quen thuộc, mà còn ở cách giáo dục đang được nhìn nhận và đánh giá từ một bộ phận xã hội. Không ít ý kiến phê phán giáo dục xuất hiện dồn dập, gay gắt, đôi khi mang tính quy chụp, cảm tính, thiếu sự thấu hiểu đối với thực tiễn lớp học. Giáo viên dễ dàng trở thành đối tượng bị soi xét, bị đổ lỗi, trong khi những nỗ lực âm thầm, bền bỉ mỗi ngày thì ít khi được nhắc đến. Điều đó không chỉ gây tổn thương cho những người làm nghề, mà còn vô tình tạo ra khoảng cách giữa giáo dục và xã hội - một khoảng cách rất đáng lo ngại.

Tôi không cho rằng giáo dục là lĩnh vực “bất khả phê bình”. Trái lại, giáo dục càng cần phản biện, càng cần tiếng nói góp ý từ cộng đồng. Nhưng phản biện cần đi kèm trách nhiệm, và góp ý cần xuất phát từ mong muốn xây dựng.

Một nền giáo dục không thể mạnh lên nếu chỉ phải chống đỡ với áp lực dư luận, mà thiếu đi sự đồng hành, chia sẻ và niềm tin. Khi giáo viên luôn ở trong trạng thái phòng thủ, e dè trước ánh nhìn nghi ngờ, thì rất khó để họ dấn thân đổi mới một cách sáng tạo và nhân văn.

Nếu với giáo viên, khó khăn lớn nhất là làm sao thích ứng và đổi mới ngay trong từng giờ dạy, từng lớp học cụ thể, thì với đội ngũ quản lí giáo dục cấp cao, thách thức lại nằm ở việc phải điều hướng cả một hệ thống lớn, nơi mỗi quyết định đều có độ trễ, độ lan tỏa và hệ quả lâu dài. Một chính sách giáo dục không chỉ tác động đến một nhóm nhỏ, mà ảnh hưởng đồng thời đến hàng triệu học sinh, giáo viên, phụ huynh và cả tương lai nguồn nhân lực của đất nước.

Nhà quản lí giáo dục thường đứng ở vị trí chịu trách nhiệm cao nhất trước xã hội, nhưng lại ít khi có được đầy đủ “điều kiện lý tưởng” để triển khai các quyết sách. Họ phải dung hòa giữa yêu cầu đổi mới với thực tiễn không đồng đều của các vùng miền; giữa mục tiêu dài hạn với áp lực dư luận ngắn hạn; giữa tính khoa học của giáo dục với những đòi hỏi rất đời thường của xã hội.

Trong nhiều trường hợp, một chủ trương đúng về mặt định hướng vẫn có thể gặp phản ứng trái chiều chỉ vì chưa kịp được giải thích đầy đủ, hoặc chưa có đủ thời gian để kiểm chứng hiệu quả.

Khỏe để học tập tốt, lao động tốt. Ảnh: Ngọc Hải
Khỏe để học tập tốt, lao động tốt. Ảnh: Ngọc Hải

Điều khó khăn hơn cả là nhà quản lí giáo dục thường ở trong trạng thái bị nhìn thấy rất nhiều, nhưng được thấu hiểu rất ít. Khi kết quả chưa như kỳ vọng, họ dễ trở thành tâm điểm của chỉ trích; nhưng khi hệ thống vận hành ổn định, ít ai nhớ đến những áp lực thầm lặng phía sau. Không gian cho thử nghiệm, yếu tố sống còn của đổi mới, vì thế bị thu hẹp, trong khi giáo dục lại là lĩnh vực cần sự kiên nhẫn hơn bất cứ lĩnh vực nào khác.

Chính vì vậy, đổi mới giáo dục không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên vai những người quản lí, cũng như không thể đánh giá họ chỉ qua những biểu hiện bề nổi và tức thời. Xã hội càng kỳ vọng cao bao nhiêu thì càng cần đi kèm sự đồng hành, giám sát có trách nhiệm và phản biện có chiều sâu bấy nhiêu. Chỉ trong một môi trường như vậy, những người giữ trọng trách cao của ngành Giáo dục mới có đủ niềm tin và “không gian chính sách” để đưa ra các quyết định vì lợi ích lâu dài của người học và của đất nước.

* * *

Gác lại những gì vừa qua, mở lòng đón nhận con đường mới, tôi vẫn nghĩ giáo dục chúng ta đang hiện hữu cả áp lực và động lực, như hai con lắc hai bên vừa duy trì, vừa thúc đẩy. Điều mong mỏi nhất vẫn là tinh thần sẻ chia, đồng hành, trách nhiệm của mỗi người, dù trong hay ngoài ngành, khi hướng về giáo dục.