Hương vị trà Tết xưa!

Viết Ngọc 18:56, 02/01/2026

Thói quen uống trà của những thành viên trong gia đình tôi có từ rất lâu rồi. Để chọn trà uống Tết, chị dâu tôi thường hái riêng một khoảng vườn nào đó mà chị cho là trà được nước nhất, đậm đà nhất và quay riêng. Mỗi lần pha trà Tết, anh trai tôi lại hoài niệm. Ngày xưa, trà Tết còn phải uống dè, đâu có nhiều như bây giờ. Mỗi người một chén nhỏ là hết một ấm rồi. Ngày Tết, đổ bã, tráng ấm pha liên tục, chứ ai chế lại nước hai bao giờ, nên mỗi lần pha trà, chỉ căn theo lượng khách mà bỏ trà vào ấm. Những câu chuyện tản mạn của anh khiến tôi quay quắt nhớ ngày xưa, những ngày đi mót chè về sao uống Tết.

 

Sau tiết Sương giáng, chè vụt lên lượt búp cuối cùng rồi tắt lụi. Nở ra búp nào là hai hôm sau sương làm cháy xém búp ấy, hoặc chỉ sau hai cái nắng hanh là xòe ra hai lá vành vạnh. Qua Sương giáng một tháng, người dân quê tôi bắt đầu đốn chè. Chè Tết chính là chè Đông, được hái từ những cây chè để lưu không đốn. Bởi chè Xuân chính là chè từ những cây chè đã đốn sau khi uống căng giọt mưa xuân thì búp mới bật lên. Thường sau tiết Lập Xuân cả tháng mới có chè xuân.

Chè lưu không có nhiều để hái rầm rộ. Chè lưu chỉ có những búp tôm mập mạp nhú lên ở nách lá. Người lớn không tốn công sức để lên nương đồi nhặt mỗi ngày vài cân chè lưu. Việc ấy là của bọn trẻ con. Thế là, mùa đông, mùa căm căm gió bấc.

Trong cái rét của khí trời, của chân đất, áo xống mỏng manh sơ sài, bọn trẻ con chúng tôi vai đeo làn tế, chân nhảy bước sáo cho ấm, tay cầm theo nọt rơm để lên đồi mót chè. Từng tôm chè chắc nịch được những ngón tay trẻ con gầy guộc còn lem mực lẩy xuống, bỏ vào làn. Thi thoảng lại hái một bông hoa chè đọng mật đưa lên miệng hít rồi trầm trồ ngọt quá. Miệng đứa nào cũng bám vàng phấn hoa chè. Mót hết nương chè lưu nhà mình thì mót sang nương chè chưa đốn của nông trường. Vì chè nông trường thường đốn muộn hơn dân.

Nhìn khắp những nẻo đồi tròn trịa như bát úp của nông trường chỉ thấy một màu trẻ con í ới nô đùa gọi nhau. Chúng tôi vừa mót chè vừa chơi trốn tìm giữa những mạch chè ngăn ngắt. Sáng học chiều mót chè. Mùa mót chè uống Tết ngắn ngủi, nhưng tôi tin, không một đứa nào trong lứa chúng tôi ở làng quên được. Cuối buổi, đem chè tôm về, bà nội tôi bỏ ngay chè lên chảo gang sao chín. Sau đó đổ chè ra nong, bà dùng tay vò cho chè xoăn tít lại, sau đó cho lên sấy. Giá sấy là nong thưa, tùy thuộc vào kích cỡ của búp chè mà có mặt nong phù hợp. Chè được sấy bằng tế cho gần khô rồi tiếp tục cho vào chảo gang sao suốt đến khô hẳn. Bỏ chè đã sao ra mẹt, bà sảy sạch cám chè, hương trà thơm ngào ngạt bay khắp nhà rồi tự nguội trong cái tiết trời buốt giá trong veo. Bà cẩn thận dùng báo gói từng gói nhỏ mỗi ngày chúng tôi mót được, cho vào vại bịt kín. Hôm sau chúng tôi lại đi mót. Vì thương bà và còn vì muốn có những ấm trà ngon mời khách ngày Tết, chúng tôi chăm chỉ mót chè lắm.

Càng lớn, chúng tôi càng thấy rõ giá trị của loại thức uống gần gũi thân thương này đối với sức khỏe của con người. Nhưng cũng càng ngày, quá khứ càng lùi sâu. Chúng tôi như con chim bay xa dần những đồi chè quê cũ để đến với rất nhiều vùng đất khác. Chúng tôi được thưởng thức rất nhiều loại trà ngon nức tiếng của dải đất hình chữ S mà đầu tiên phải kể đến là trà nõn tôm Tân Cương. Sau đó là trà sen Tây Hồ, trà Shan tuyết Tây Bắc, trà cổ thụ Tà Xùa, trà cổ thụ rừng Hoàng Liên, Suối Giàng, Hà Giang... Mỗi loại trà đều để lại trong tôi những dư vị đặc biệt khó quên. Và cả niềm ngưỡng mộ chân thành trước sự kết hợp hài hòa của tài trí con người Việt với đất trời, nắng gió mỗi miền quê trong từng chén trà nhỏ bé. Nhưng thẳm sâu trong ký ức, là vị trà lưu ngày Tết quê tôi đã chắt chiu nuôi dưỡng vị trà đắng chát đầu lưỡi, nhưng ngọt đậm đà, mộc mạc nơi cuống họng


Từ khóa:

trà tết

hương vị