Mùa đông tràn xuống Tân Cương bằng một lớp khí lạnh mỏng khiến bầu trời như thấp xuống gần mặt đồi. Gió không dữ dội nhưng đủ sắc để làm người ta tỉnh táo. Sương sáng bám vào những tán chè tạo thành từng giọt long lanh như mồ hôi của đất. Đứng giữa không gian ấy, tôi không khỏi nghĩ: Nếu có linh hồn trà thật sự, chắc hẳn nó phải sinh ra từ những buổi sớm mùa đông như thế này.
![]() |
Người trẻ trở về và cuộc lội ngược dòng với giống chè cổ
Tôi nhìn những gốc chè già ở Tân Cương, cảm giác như đứng giữa một bảo tàng của thời gian. Giống chè này, vốn được cụ Vũ Văn Hiệt mang về từ vùng Thanh Ba, Phú Thọ đầu thế kỷ trước, đã bén rễ vào thổ nhưỡng Tân Cương, rồi từ đó làm nên danh tiếng Cánh Hạc lẫy lừng trong lần Trà Tân Cương đoạt giải cao nhất ở Hội chợ Đấu xảo Hà Nội năm 1935. Người ta gọi nó bằng nhiều cái tên: Chè cổ, chè lịch sử, chè trung du lá nhỏ. Tất cả đều chỉ về một giống chè duy nhất, giống chè mang ký ức của vùng đất.
![]() |
| Dù đã là cuối đông nhưng vườn chè trung du của Lê Sơn Hải vẫn đầy sức sống và cho thu hái. |
Trong cái se lạnh ấy, tôi gặp Lê Sơn Hải - chàng trai trẻ của xóm Nam Thành, người đã chọn trở về quê bằng một quyết định tưởng như vô lý đối với thế hệ mình. Em tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ngay khi ai cũng nghĩ Hải hoàn toàn có thể sống một cuộc đời đô thị lấp lánh, thì Hải lại ngoái nhìn đồi chè, rồi quay về như thể quê nhà có nối một sợi dây mảnh, mảnh đến nỗi mà rất ít người nhìn thấy.
Chúng tôi ngồi bên chiếc bàn tre dựng ngay cạnh hồ sen đang ở kỳ tàn lá. Mặt nước mùa đông phẳng lạnh, chỉ còn vài cuống sen khẳng khiu trồi lên. Không gian thoảng mùi hoa nhài và sói từ khu vườn em trồng phía bên kia lối đi, tạo nên thứ hương nhẹ nhưng dai dẳng.
Hải pha chè mời tôi. Nước sôi đổ vào ấm khiến hơi nóng lan lên mặt bàn, mang theo mùi trà nguyên bản: Không gắt, không nồng, thơm mùi cốm. Khi tôi nhấp ngụm đầu tiên, vị chát dịu lan vào vòm miệng, rồi hậu ngọt mở ra, kéo dài và ấm đến lạ. Vị trà mà với tôi vẫn luôn là đặc biệt nhất.
Hải dẫn tôi đi thăm vườn. Tôi bất ngờ khi thấy những hàng chè cao đến ngang bụng, cao hơn hẳn nhiều nương chè khác mà tôi từng gặp. Hải cười bảo, để chè cao vậy là cố ý: Em không muốn ngồi khi hái chè. Khi cây đạt đến tầm như thế, thân khỏe, lá dày, tán đầy. Cũng là để giữ gìn sức bền cho cây.
Vườn này là công trình riêng của Hải. Những hạt chè được lấy từ cây trung du thuần chủng, Hải ươm lên từng cây con rồi trồng lại bằng đôi tay mình. Hải cúi xuống, chỉ cho tôi xem mặt lá. Chỉ cần chạm nhẹ đầu ngón tay, tôi đã thấy sự khác biệt: Lá mềm và dày hơn, chân lá khỏe, màu xanh đậm như đang giữ lại cả mùa nắng của năm cũ.
Đi sâu hơn vào đồi, một khu chè được che bằng lưới đen trải dài như một tấm rèm. Hải bảo, đây là diện tích em để làm matcha. Em nâng một chiếc lá cho tôi xem. Lá không mơn mởn nhưng mặt lá bóng, lá dày hơn và màu xanh thẫm như được ai đó quét nhẹ một lớp sương mỏng vậy. Cây sống khoẻ, hấp thu dinh dưỡng từ các chế phẩm mà Hải kiên trì sử dụng suốt nhiều năm để cải tạo đất theo hướng hữu cơ.
Chè khi được che lưới làm bột matcha sẽ có màu xanh đẹp, khử được đắng, chát. Hải cho biết: Mỗi năm thường em chỉ thu 6 lứa (thông thường một năm chè có thể thu 8 lứa), còn với chè làm matcha thì em chỉ thu ba lứa, bởi thu nhiều hơn thì cây "mệt". Mà cây chè "mệt" thì trà "mất hồn". Hải nói như một chân lý đã được học bằng trải nghiệm.
Hải đang chuẩn bị cho một đơn hàng matcha lớn của khách nước ngoài. Em làm mọi thứ cẩn thận đến mức tôi có cảm giác mỗi chiếc lá trong vườn này đều biết mình sắp trở thành một phần của sản phẩm đem đi xa, đầy kiêu hãnh.
![]() |
| Sản phẩm trà matcha của Lê Sơn Hải không chỉ cho chất lượng thơm ngon mà còn vô cùng đẹp mắt. |
Chúng tôi đi đến khoảnh chè cuối đồi, nơi những chùm hoa chè trắng muốt nở bung. Gió thổi làm hoa rung nhẹ, rơi vài cánh xuống đất như những đốm nắng đông muộn. Hải nhìn xa xăm, giọng nhỏ nhưng đầy thành thật: Có những ngày em ra đây từ lúc trời còn sương, đứng lặng một lúc lại thấy như mầm trà đang nói chuyện. Nó có tiếng của nó, chị ạ. Chỉ ai thương nó thật lòng mới nghe được.
Tôi nhìn vào mắt em, ánh mắt của người không làm nghề cho vui, không làm vì phong trào, mà làm vì một mối ràng buộc rất riêng giữa con người và mảnh đất ông cha. Ba năm liền em thử nghiệm làm chè hữu cơ, thất bại nhiều hơn thành công. Có lúc tưởng phải buông tay. Thế nhưng theo cách của đất, cây chè hồi sinh chậm rãi: Lá đổi màu, tán đầy hơn, hương búp đậm lại. Hải chạm tay vào một cành chè gần đó, nhìn tôi bảo: Em tin chỉ cần mình làm bằng lòng mình, thì trà cũng sẽ tìm đến đúng người muốn uống. Tôi tin em và cũng tin điều đó.
Tạm biệt Hải, tôi rời bước khỏi đồi chè, những luồng gió già của tháng cuối năm lùa qua mặt lá, đưa lại cho tôi mùi trà non vương trên tay. Một điều rất cũ mà người trẻ hôm nay hay quên bỗng trở nên rõ ràng, đôi khi quê hương chỉ đơn giản là một cái cây mà mình đủ yêu để trồng lại.
Người níu lại ký ức Tân Cương
Cũng trong hơi lạnh dìu dịu của buổi chiều đông hôm ấy, tôi có mặt tại xóm Hồng Thái 2. Mặt trời rút xuống rất nhanh sau dải núi Tam Đảo, để lại thứ ánh sáng vàng nhạt như màu trà cuối ấm. Ở nơi được xem là giữ được hơi thở cổ nhất của Tân Cương, tôi gặp anh Lê Thanh Dương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Chè trung du Tân Cương.
Nếu Hải đem tới vùng trà này nguồn sinh khí của người trẻ, thì ở anh Dương, tôi nhận ra vẻ điềm tĩnh của người đã sống quá lâu với cây chè để hiểu rằng mọi thứ có giá trị đều cần thời gian. Chúng tôi đi trên lối nhỏ dẫn vào bãi chè trung du hơn 50 năm tuổi, những thân chè xù xì, nứt vân như những gương mặt từng trải của gia đình bà Hồng Phượng. Bà từng định phá bỏ cả nương chè khi trào lưu trồng chè lai lên mạnh đầu những năm 2000. Anh Dương khi đó đã tìm đủ lời giải thích để thuyết phục bà giữ lại. Nhắc đến khoảnh khắc ấy, anh chỉ nói nhỏ, nhìn người ta chặt cây chè cổ giống như nhìn một phần ký ức bị bứng khỏi đất ấy, đau lắm!
Anh kể rằng đúng vào thời điểm đó, một lãnh đạo của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc gửi tặng anh giống chè trung du trồng bằng cành đủ cho một sào đất. Nhiều người nhận giống xong để đấy, nhưng anh thì không. Anh xem đó như cơ duyên của nghề và lập tức bắt tay vào trồng thử. Anh chăm từng luống nhỏ, kiêng bón thúc, để cây tự thích nghi với thổ nhưỡng nơi đây.
![]() |
| Anh Lê Thanh Dương chuẩn bị sản phẩm chè Tết cho khách đã đặt hàng. |
Ba năm sau, khi những cành chè đầu tiên bén đất, anh hái mẻ búp non, sao thử theo kỹ thuật thủ công. Lúc pha chén trà đầu, anh khựng lại. Nước trong, sắc xanh ngả vàng nhẹ, mùi cốm non bốc lên tinh tế. Anh mang vài ấm chè biếu người tặng anh giống chè năm ấy, ông uống xong thốt lên: Hợp quá, đất Tân Cương hợp quá!
Khi đem mẻ trà thử nghiệm mời bà con trong xóm, không ít người “tròn mắt”. Vị chè êm mà đằm, hậu kéo dài, thơm cốm đúng điệu, nước bền đến lần pha thứ ba vẫn còn đượm.
Từ đó, anh Dương càng củng cố niềm tin, anh đi vận động từng nhà đừng chặt chè trung du nữa. Nhưng nhiều người không nghe theo, bảo anh cố chấp. Có người nói thẳng, thời của nó hết rồi. Nhưng anh vẫn lặng lẽ đến từng đồi chè, nói chuyện với từng người, tự bỏ tiền mua phân hữu cơ, chế phẩm vi sinh, mang tận nơi hướng dẫn họ cách chăm và cam kết bao tiêu sản phẩm.
Chúng tôi men theo con đường nhỏ chạy giữa vùng chè hữu cơ hơn 5 héc-ta mà hợp tác xã đã kiên trì gây dựng từ năm 2015 đã được chứng nhận. Đất dưới chân tơi và ấm. Anh Dương cúi xuống bốc một nắm đất, nén nhẹ trong lòng bàn tay rồi buông ra, để từng hạt rơi xuống như thử độ tơi của nó. Anh nói chè trung du chỉ bộc lộ trọn vẹn hương vị khi đứng đúng trên loại đất vốn sinh ra để nuôi nó, đó là đất đỏ gan trâu non, tầng mặt thoáng, hút nước nhanh nhưng vẫn giữ được độ ẩm thiết yếu để rễ bám sâu và lan rộng.
Anh bảo: nhiều người trước đây chê chè trung du đắng, chát là vì cây không được chăm theo đúng tính nết của nó. Thiếu nước, dư phân hóa học đều khiến vị chè trở nên gắt.
Còn bây giờ, nhờ áp dụng kỹ thuật hữu cơ và canh tác sinh thái, chất lượng lá đã đổi khác. Rễ khỏe thì búp béo hơn, vị chát khô biến mất, thay vào đó là vị êm và hậu ngọt giữ rất lâu. Thời gian thu hái cũng không còn phụ thuộc hoàn toàn vào mưa như trước, vì hợp tác xã đã chủ động hệ thống nước tưới, cây luôn có đủ độ ẩm để phát triển theo nhịp tự nhiên. Truyền thống đi cùng khoa học, theo anh Dương, chính là con đường để chè trung du bước tiếp mà không hề thua kém bất cứ giống chè nào, trái lại, càng bộc lộ rõ phẩm chất riêng có của giống chè cổ đã làm nên danh tiếng vùng đất này.
![]() |
| Nhờ được chăm sóc đủ dinh dưỡng, nước những vườn chè trung du ở Tân Cương đã kéo dài thời gian cho thu hoạch. |
Đi hết một vòng, anh kể thêm cho tôi nghe câu chuyện khiến anh có thêm động lực và càng tin vào sự lựa chọn của mình. Trong một hội chợ ở miền Tây, anh đem cả máy móc vào tận nơi để sao chè trực tiếp. Búp chè tươi được người nhà hái từ sáng sớm, gửi thẳng xuống sân bay, lên chuyến bay đầu ngày, vào đến nơi là anh bắt tay vào sao ngay. Hương chè thủ công bốc lên khiến không ít người vây lại xem.
Có một người đàn ông lặng lẽ theo dõi anh suốt nhiều buổi. Ông không nói gì, chỉ ngồi nhìn anh sao chè, qua vài ngày, mẻ nào ra lò ông lập tức mua mẻ đó. Ngày cuối cùng của hội chợ, ông mới kể: Ông là người Thái Nguyên, đi bộ đội rồi ở lại miền Tây hơn ba mươi năm. Ông nói mà giọng khàn đi vì xúc động: Ba mươi lăm năm, nay tôi mới gặp lại đúng chén trà của quê nhà.
Từ đó, ông trở thành khách quen của HTX. Anh Dương kể lại kỷ niệm ấy bằng ánh mắt ấm áp, ánh mắt của người thấm thía rằng làm trà đâu đơn thuần tạo ra một thức uống, đó còn là cách giữ lại một phần ký ức quê nhà cho những người đã đi xa.
Anh dẫn tôi vào phòng trưng bày nhỏ của HTX. Trên kệ gỗ là những gói trà đinh, trà tôm nõn, trà trung du thượng hạng, tất cả đều được chế biến thủ công từ giống chè trung du. Người trẻ uống để trải nghiệm, người trung niên uống để nhớ. Ai từng uống trung du đúng điệu thì khó mà đổi sang loại khác - anh chia sẻ.
Tôi hỏi anh vì sao lại kiên trì đến mức dường như đi ngược cả phong trào thay giống đang mạnh mẽ trong vùng. Anh hướng ánh nhìn ra đồi chè phía trước, nơi những tán lá trung du đang rung nhẹ trong gió đông, rồi chậm rãi nói rằng giống chè này không ồn ào, không lớn nhanh, nhưng cái thật của nó thì không thứ gì thay thế được. Bỏ đi là bỏ luôn phần cốt lõi đã làm nên danh tiếng “đệ nhất” của vùng trà suốt bao thập kỷ. Chè trung du là giống chè duy nhất mang trong mình lịch sử kéo dài hàng trăm năm, đủ chiều sâu để kết tinh thành văn hoá, nếu một khi văn hoá ấy mai một thì khó có thể gây dựng lại.
Những bước chân nối tiếp di sản
Rời xóm Hồng Thái 2, trời đã chớm tối. Sương bắt đầu quấn lấy mặt đồi, mỏng như lớp khói chiều phủ lên những tán chè già. Tôi bỗng thấy rõ mối liên hệ giữa buổi sáng đứng cạnh vườn chè của Hải và buổi chiều dạo cùng anh Dương, hai khoảnh khắc tưởng rời nhau nhưng lại khép một vòng rất trọn.
![]() |
| Thân thiện với môi trường là lựa chọn của Sơn Hải, ngay cả trong khâu chọn bao bì sản phẩm. |
Một người trẻ đang cần mẫn gây dựng lại những điều tưởng chừng đã mất. Một người trung niên kiên trì giữ gìn những điều không được phép mất. Giữa hai con người ấy, giống chè trung du là một phần ký ức, phần bản sắc của cả vùng đất. Cả hai đều đang làm những điều rất cũ của nghề bằng tâm thế rất mới của thời đại.
Hải trồng lại từ hạt, cải tạo từng tấc đất, làm chè đinh, làm matcha… từ giống chè cổ như một cách nói với thế giới rằng, chè trung du vẫn còn đủ sức bước đi, đủ phẩm chất để hiện hiện trong đời sống hôm nay. Em làm nghề bằng say mê và sự tinh tế của một thế hệ coi việc gìn giữ không phải là đóng khung, mà là giữ được bản chất trong khi tìm cách đi xa hơn. Trong những sản phẩm của em, người ta dễ gặp lại vị của đất và sự tử tế của người.
Còn anh Dương, người đã đi qua những năm tháng cây chè trung du bị chê bai, chặt bỏ, hiểu rõ từng nỗi hao hụt của nghề. Anh giữ lại từng gốc chè già như giữ lại tấm căn cước của vùng đất. Với anh, việc bảo tồn giống chè không phải chuyện “làm đẹp” cho lịch sử, mà là giữ nền móng của văn hoá. Bởi văn hoá, khi đã đánh mất, rất khó gọi về.
Đi giữa đồi chè trong cái lạnh cuối ngày, tôi hiểu vì sao trong suy nghĩ của mình, tôi lại thấy những người như anh Dương và Hải nhưng như những "hộ pháp" lặng lẽ của giống chè xưa ấy.













Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin