Tản mạn... cùng Tân Cương

Ngô Đức Hành 16:47, 03/01/2026

Nghe danh Tân Cương từ bé, uống trà Tân Cương từ lúc trưởng thành, nhưng đặt chân lên đất Tân Cương, đắm mình trong không gian vùng chè nổi tiếng này, đối với tôi là lần đầu. Tôi phải cám ơn các anh, chị lãnh đạo địa phương, các cơ sở trồng chè, chế biến trà như Hợp tác xã Hảo Đạt, Hợp tác xã Trà và Du lịch cộng đồng Tiến Yên và Ban Tổ chức Cuộc thi viết “Trăm năm đệ nhất danh Trà”...

Nương chè vân tay. Ảnh: Khắc Thiện
Nương chè vân tay. Ảnh: Khắc Thiện

“Thái Nguyên - Xứ ấy thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn… Nghĩa là nơi đất lành, nhân kiệt” (Đại Nam thực lục). Tôi cứ nghĩ về vùng đất này và cây chè của nó. Theo nhà nghiên cứu trà Trịnh Quang Dũng, rừng trà cổ thụ Việt Nam có tuổi đời vài trăm đến vài nghìn năm, là chứng cứ Việt Nam là một trong những cái nôi trà thế giới. Chè Thái Nguyên, đặc biệt là Tân Cương, đã tồn tại ít nhất hai thế kỷ. Trong "Đại Nam nhất thống chí", Thái Nguyên được ghi: “Nam trà, sản ở các huyện Phú Lương, Động Hỷ, Đại Từ, Phổ Yên, vị tốt”, khẳng định chất lượng chè Thái Nguyên vượt trội.

Nhắc đến Thái Nguyên là nghĩ tới “Tứ đại danh trà”: Tân Cương, Trại Cài, La Bằng, Khe Cốc. Dân gian còn lưu truyền câu: “Chè cài gái Hích”, Phố Hích xưa thuộc xã Hòa Bình (Đồng Hỷ), nay là xã Văn Lang. Khi tôi đến Thái Nguyên, biết chuyện cây chè cổ thụ Núi Bóng, thuộc dãy Tam Đảo. Năm 2009, một cán bộ tìm thấy khu rừng nguyên sinh tại xã Đức Lương. Cây chè đại thụ cao 30m, đường kính gần 1m, thân gỗ hai người ôm, được phát hiện. Chè cổ còn có ở núi Hồng. Từ 2024, búp trà núi Bóng chính thức ra mắt, gắn với nhiều huyền sử thời nhà Mạc.

Văn minh trà Việt là phạm trù văn hóa rộng lớn. Sách sử ghi từ năm 959, tục dùng trà cúng Phật, gia tiên, quà tặng trong lễ cưới hỏi, giao tiếp. Trong "An Nam chí lược" (thế kỷ XIV), uống trà đã thành nghi thức lễ hội. Trà gắn bó với người Việt từ lúc sinh ra đến khi trở về cát bụi.

Trong chuyến thực tế, tôi đến Hợp tác xã Trà và Du lịch cộng đồng Tiến Yên, Hợp tác xã Chè Hảo Đạt trên đất Tân Cương. “Bát hoa” - các ngọn chè cắm trên xốp thể hiện bản sắc chè gần gũi. Văn hóa trà còn được biểu tượng hóa qua tượng, tranh, điêu khắc, mô hình tại Trung tâm Văn hóa Trà Tân Cương. Lịch sử trà Việt còn ghi “Tục tị ẩm” từ thế kỷ II TCN, cúng trà theo lễ Khai ấn thời Lê-Trịnh, uống trà dần trở thành triết lý, kết nối cộng đồng, thành trà đạo.

Hiện nay, trên đất chè Thái Nguyên, các đơn vị du lịch trà như Tiến Yên, Hảo Đạt, đều có hoạt động thưởng trà chuyên nghiệp, với lực lượng trẻ được đào tạo bài bản. Trên đất Tân Cương, từ những người khai khẩn đến hậu duệ họ Phạm Văn (ông Phạm Tiến Đạt, bà Đào Thanh Hảo) gìn giữ danh thơm “Đệ nhất danh trà”. Vùng đất này, sơn có Tam Đảo, thủy có đầu nguồn sông Công, khí hậu ẩm, lý tưởng trồng chè.

Kỹ thuật canh tác truyền đời được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (05/04/2023). Hợp tác xã Chè Hảo Đạt từ 7 thành viên nay đã có 60 thành viên, sở hữu 50ha chè, doanh thu gần 50 tỷ đồng/năm, là đơn vị OCOP 5 sao duy nhất tại Thái Nguyên. Giám đốc Đào Thanh Hảo được vinh danh với sáng kiến “Ứng dụng ống diệt men chè vào sản xuất”, đánh dấu đổi mới ngành chè Tân Cương.

Cương thổ, khí hậu tạo nên chè Tân Cương; kỹ thuật bí truyền và tấm lòng người nông dân tạo ra danh thơm. Anh Nguyễn Đức Đeng, nông dân trồng chè, nói: “Bọn mình làm trà cho gia đình uống thế nào thì cung cấp thị trường như vậy”. Giản dị mà chan chứa tấm lòng.

Trà Tân Cương đi vào thơ ca, âm nhạc. Nguyễn Bính (1936) từng viết về chè Tân Cương: “Đêm nay mới thật là đêm/Ai đem giăng giãi lên trên vườn chè?”. Nhưng để có “Danh trà”, nhiều thế hệ người Tân Cương đã dâng trọn mồ hôi, nước mắt và trái tim.