Trà Thái Nguyên tinh hoa trà Việt

Phan Thái 16:52, 05/01/2026

Thái Nguyên nổi tiếng với danh xưng “Đệ nhất danh trà”. Các sản phẩm trà đã khẳng định được vị thế tại thị trường trong nước và quốc tế. Nhiều giải pháp mang tính đột phá, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong khai thác tiềm năng, thế mạnh, nâng cao giá trị cây chè và các sản phẩm trà, kiến tạo không gian mới để vươn xa tầm nhìn phát triển kinh tế xã hội, đã mang đến cho nhiều miền quê sức sống mới.

Bà con người Mông thu hái chè.
Bà con người Mông thu hái chè.

Như khúc giao duyên giữa mạch nguồn lịch sử

Các địa tầng văn hóa của mảnh đất, con người Thái Nguyên bồi lắng lấp lánh truyền thống anh hùng và văn hiến, truyền thống cách mạng. Mỗi khi nâng tách trà cảm xúc lại thăng hoa. Trong không gian lịch sử, nhiều tư liệu cho thấy cây chè xuất hiện trên miền đất Thái Nguyên từ rất lâu đời. Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cuốn “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép thổ sản của các tỉnh trong cả nước, theo đó có hơn 10 tỉnh có chè. Quyển 20 ghi chép về Thái Nguyên vào thời vua Tự Đức (1848 - 1883), phần thổ sản ghi “Chè Nam: Sản ở các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phổ Yên, vị ngon hơn chè các nơi khác”. Các sử gia cũng trích “Văn đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn viết năm 1773 khẳng định xứ Thái Nguyên có nhiều loại thổ sản, và ghi rõ: “Chè…mối lợi dồi dào”.

Theo các tài liệu người Pháp, cuối thế kỷ 19 tại Hà Châu, Tiên Phong, khu vực từ đường Phủ Liễn ra ga Đồng Quang và tại Đu, Trại Cài đã có các đồn điền trồng chè và cà phê do chủ người Pháp quản lý.

Những năm đầu thế kỷ 20, được sự chỉ dẫn và chu cấp của cụ Nghè Sổ - Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân, ông Vũ Văn Hiệt (tức Đội Năm) cùng trai tráng trong xã lấy giống chè Phú Thọ về trồng trên đất Tân Cương. Năm 1935 sản phẩm chè Cánh Hạc Tân Cương dự thi (triển lãm) tại Đấu Xảo Hà Nội và được thương gia Ấn Độ đặt mua với số lượng lớn. Chè Tân Cương thực sự nổi tiếng từ đó.

Thái Nguyên có nhiều địa danh làng, xóm gắn với chữ “chè” tại nhiều xã. Nhiều bậc cao niên cho rằng từ xa xưa làng xóm mình có nghề trồng chè. Trải qua thăng trầm của lịch sử, hiện vẫn còn những cây chè cổ hiện diện tại chùa Hương Sơn, đền chùa Thiên Tây Trúc, núi Bóng và sườn Đông Tam Đảo.

Chùa Hương Sơn chỉ còn duy nhất một cây chè cổ thụ và có tuổi đời khoảng trên 300 năm. Những cây chè ở đền, chùa Thiên Tây Trúc có khoảng trên 40 cây, trên 10 cây có tuổi đời dưới 200 năm, còn lại từ vài chục năm đến 100 năm. Những cây chè cổ núi Bóng có trên 30 cây. Cây chè cổ nhất khoảng 300 năm tuổi, đường kính gốc 60cm, cao khoảng trên 25m, những cây chè cổ đều mọc dọc đường lên vị trí người dân địa phương gọi là “Thành nhà Mạc”, gợi mở những bí mật còn ẩn chứa. Mới đây việc phát hiện những cây chè cổ trong rừng sâu tại sườn Đông dãy núi Tam Đảo thuộc địa phận tỉnh mở ra một góc nhìn mới.

Đặc biệt tại các thôn bản phía Bắc tỉnh còn có những đồi chè Shan tuyết cổ thụ, tập trung nhiều tại xã Đồng Phúc với 740 cây từ trên một trăm đến vài trăm năm tuổi, trong đó riêng thôn Phiêng Phung có trên 400 cây. Người dân khẳng định còn nhiều cây trong rừng sâu các ngành chức năng chưa có điều kiện khảo sát. Bao đời nay người dân địa phương gọi là chè rừng. Khoảng 30 năm trước, bà con mới biết đó là cây chè Shan tuyết. Cây chè Shan tuyết hội tụ, chắt lọc tinh túy đất trời từ núi non và những giọt nước tinh khiết của đại ngàn nên hương vị trà thơm ngon rất khác biệt.

Từ xa thẳm mạch nguồn lịch sử, cây chè Thái Nguyên đã ngát hương và có một sức sống mãnh liệt. Các sản phẩm trà của nhiều miền quê trong tỉnh hôm nay thực sự hội tụ tinh hoa trà Việt, bởi đây là thứ trà của nghệ thuật được chắt lọc, kết tinh hương trời hương đất, từ mồ hôi công sức và tình cảm của con người Thái Nguyên.

Chúng tôi cho rằng nghiên cứu làm rõ nguồn gốc, lý do tồn tại và có các phương án bảo vệ, nhân giống những cây chè cổ là việc làm cần thiết để chè Thái Nguyên ngày càng được nâng tầm trong không gian phát triển mới.

Thơm ngát những mùa hương bay lên

Nhân viên HTX giới thiệu sản phẩm trà.
Nhân viên HTX giới thiệu sản phẩm trà.

Thái Nguyên có gần 24.000ha chè và hiện đang được mở rộng. Mỗi vùng quê trồng chè đều mang một câu chuyện văn hóa đặc sắc của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Dường như trên từng búp chè muôn nỗi người xưa còn đọng lại và cả huyền tích cũng chưng cất nên mùa trà thơm.

Trước kia người làm chè Thái Nguyên chủ yếu chế biến loại trà mạn từ búp non, sao khô với mùi thơm bình dị, mộc mạc. Thảng hoặc có người ướp thêm hương hoa làm trà hương như trà sen, trà nhài. Trà mạn là thức uống rất phổ biến trong mọi gia đình, làng xã. Một thời gian dài, loại trà Thái làm từ búp sao khô còn được gọi là trà móc câu vì cánh trà xoăn nhẹ hình móc câu. Nhiều nơi còn gọi là trà mốc cau vì trà phủ một lớp phấn như màu mốc của thân cau. Trà búp còn dùng để phân biệt với loại chè ban, chè bồm sao từ lá chè già hãm làm thức uống khi làm đồng, hoặc tại các công trường.

Những năm gần đây, mô hình kinh tế nông nghiệp xanh ngày càng thể hiện ưu thế vượt trội trong sự phát triển. Nhiều giải pháp cụ thể của tỉnh đã quy tụ được nguồn lực, tạo sự chung sức của bốn “nhà” gồm: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông trong phát triển cây chè. Một số giống chè được đưa vào trồng với cơ cấu hợp lý bên cây chè Trung du xanh và tím truyền thống như: Long Vân, Bát Tiên, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, chè lai F1, Tri 777… Các loại chè này có ưu điểm là khi trồng cho tỷ lệ sống cao. Khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng khá tốt với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng địa phương. Cây sinh trưởng khỏe, mật độ búp dày và mập, thích hợp cho chế biến chè đặc sản.

Các hợp tác xã đều làm chè theo tiêu chuẩn chè sạch, an toàn, ứng dụng trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, từng bước đầu tư sản xuất chè hữu cơ. Phương thức trồng chăm sóc chè theo hộ gia đình, hợp tác xã xác lập mã số thửa đất trồng, hỗ trợ giống, kỹ thuật, phân bón, quảng bá thương hiệu, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và quản lý toàn bộ mẫu mã bao bì, tem truy xuất nguồn gốc. Khát vọng làm giàu trên đồng đất làng quê của bà con nông dân từ nền nông nghiệp xanh đang dần hiện hữu.

Thái Nguyên còn được biết tới là miền đất có những nương chè đẹp. Nhiều hợp tác xã, cơ sở sản xuất, hộ gia đình đã thiết kế quy hoạch vùng trồng mang tính thẩm mỹ cao làm đẹp xóm làng và đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái, thưởng ngoạn check-in của du khách. Trong sắc màu thổ cẩm của quê hương, các nương chè như điểm xuyết vào sóng nước, màu rừng những câu thơ dịu dàng tha thiết. Lời ca khúc “Chiều quê hương” của nhạc sĩ Đặng An Nguyên: “Hương chè xanh xanh đến mượt mà/ Về quê hương, anh về nơi đầu suối/ Giữa tươi xanh muốn hát lại đời mình…” luôn khiến mọi trái tim bồi hồi, xao động.

Phát triển cùng công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế thế giới, trà Thái Nguyên ngày càng hoàn thiện về chất lượng và đạt tiêu chuẩn OCOP. Thị trường đã chọn lựa và mặc nhiên thừa nhận tên tuổi của “tứ đại danh trà”: Tân Cương, La Bằng, Khe Cốc, Trại Cài. Thương hiệu các sản phẩm tại những nơi này và nhiều vùng trồng chè khác đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Nhiều loại sản phẩm như: Trà đinh, trà tôm nõn, trà túi lọc, trà sen, kẹo lạc trà xanh, bột trà xanh non... trở thành những mặt hàng cao cấp chiếm lĩnh thị trường. Bằng sự tinh tế, người làm chè đã kết hợp giữa phương pháp chế biến truyền thống và áp dụng khoa học kỹ thuật chế biến một số loại sản phẩm trà mới như hồng trà, trà lên men đóng bánh, trà viên, trà sâm mật ong. Những loại trà lên men với màu nước ánh lên sắc thắm, vị đậm đà thanh tao mang ý nghĩa về sức sống và sự hưng thịnh. Xu hướng kết hợp trà Thái Nguyên với các loại thảo mộc cũng đang dần phổ biến.

Không chỉ sản xuất sản phẩm dùng để uống, những năm gần đây, một số địa phương trong tỉnh tổ chức lễ hội kết hợp hội thi ẩm thực trà để phát huy tài năng sáng tạo, sự khéo léo của bà con nông dân. Các nhà hàng và cơ sở dịch vụ cũng đã chọn lựa chế biến những món ăn hấp dẫn thực khách mọi lứa tuổi như: Xôi cốt dừa trà xanh, gà hấp trà, chả cuốn lá trà, thịt kho, cá kho, tôm rang búp trà non, bánh trôi, bánh bao trà. Các món ăn gia vị chính là cốt trà, bột trà xanh hoặc búp và lá chè tươi nên màu sắc, hương vị rất hấp dẫn, bắt mắt.

Nắm bắt xu thế tiêu dùng của xã hội hiện đại, các hợp tác xã tích cực thực hiện chuyển đổi số, tăng cường quảng bá, giới thiệu, tiếp cận khánh hàng và tiêu thụ sản phẩm trà trên nền tảng số, tham gia các sàn thương mại điện tử, thực hiện livestream giới thiệu quy trình sản xuất, nguyên liệu đầu vào, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Nhiều loại hộp trà được thiết kế tỉ mỉ sang trọng, chuẩn quà tâm giao tặng đối tác, bạn bè người thân.

Trong hương vị của miền quê “đệ nhất danh trà”, người tiêu dùng hẳn vô cùng hài lòng khi thưởng thức sản phẩm trà Shan tuyết, một loại trà được nhân giống từ những cây chè cổ thụ. Nước trà Shan tuyết vàng sánh như màu mật ong, mùi thơm dịu phảng phất hương cốm. Nhiều nỗ lực gìn giữ, bảo tồn và đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu mở ra triển vọng mới cho bà con nông dân trồng chè Shan tuyết.

Kiến tạo, lan tỏa bản sắc văn hóa trà trong không gian phát tiển mới

Văn hóa trà là một tập hợp các nghi thức, phong tục, quan niệm liên quan đến việc trồng, chế biến, pha, mời và thưởng thức trà, mang đậm bản sắc của một quốc gia hoặc vùng miền. Không gian văn hóa trà là một hình thức nghệ thuật, một phương tiện giao tiếp và thể hiện sự tôn trọng, lòng hiếu khách và sự kết nối.

Thái Nguyên là một tỉnh có đông đồng bào các dân tộc thiểu số với bản sắc văn hóa độc đáo, nhiều thôn, bản của bà con trồng chè. Vì vậy trong nhiều giải pháp phát triển, tỉnh đã quan tâm định hướng gắn phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với phát triển hệ sinh thái chè, văn hóa trà và các giá trị lịch sử, bản sắc văn hóa độc đáo của vùng Việt Bắc. Xây dựng, kết nối các tour tuyến du lịch, đầu tư về cơ sở vật chất, tạo điều kiện đưa những tiết mục dân ca, dân vũ đặc sắc phục vụ du lịch tại các làng nghề, hợp tác xã ở vùng sâu, vùng xa.

Bình minh trên nương chè
Bình minh trên nương chè.

Nhiều thôn bản đã xây dựng được câu lạc bộ dân ca, dân vũ như hát Soọng Cô, hát Then, đàn tính, múa chuông, múa kiếm, múa rùa, múa Tắc xình… Trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến và biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong giới thiệu sản phẩm trà là một hoạt động thiết thực tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt.

Bên cạnh Không gian văn hóa trà Tân Cương, nhiều hợp tác xã đã xây dựng được không gian thưởng trà hoặc cơ sở vật chất phục vụ quảng bá, giới thiệu sản phẩm như: Tiến Yên, Hảo Đạt, Hương Vân Trà, La Bằng, Phú Nam… Thời gian tới, tỉnh cần có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh kết hợp với các hợp tác xã đầu tư xây dựng một, hai điểm trồng chè tập trung diện tích lớn, thiết kế không gian và cảnh quan đẹp theo mô hình một tổ hợp kinh tế nông nghiệp xanh với khách sạn, homestay, nhà hàng ẩm thực trà, thưởng trà, biểu diễn nghệ thuật...

Du lịch văn hóa trà chỉ là một loại hình trong tổng thể hoạt động của du lịch Thái Nguyên. Tới vùng chè, du khách không chỉ muốn tham quan, trải nghiệm, thưởng trà, mà còn muốn thức cả những câu chuyện lịch sử, văn hóa. Các tư liệu lịch sử, giai thoại về cây chè và sản phẩm trà Thái Nguyên từ xa xưa cần được biên tập, hoặc có biện pháp khuyến khích sáng tạo các loại hình văn hóa phi vật thể, trên cơ sở nguồn sử liệu để hương vị trà đằm sâu hơn trong hồn cốt văn hóa.

Trong hành trình phát triển mới, nên nghiên cứu xây dựng một điểm dừng chân mua sắm để trưng bày, giới thiệu sản vật địa phương tại đô thị trung tâm của tỉnh cho mọi người đến Thái Nguyên có thể lựa chọn, theo mô hình của các nước trên thế giới, trong đó không gian văn hóa trà được ưu tiên vị trí nổi bật. Tổ chức các cuộc thi ẩm thực trà, đào tạo hạt nhân chế biến các món ăn về trà đưa vào phục vụ trong các nhà hàng.

Các hợp tác xã đều tự đặt tên riêng cho từng sản phẩm nên có tới hàng trăm nhãn hiệu sản phẩm trà với tên gọi khác nhau. Theo chúng tôi nên nghiên cứu để có một số tên gọi sản phẩm trà hay, ý nghĩa, lựa chọn doanh nghiệp đối tác liên kết sản xuất, quảng bá, tạo thương hiệu mạnh và đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận thương hiệu quốc gia cho sản phẩm trà Thái Nguyên khi đạt 3 tiêu chí của thương hiệu.

Cùng với nâng cao chất lượng trà và mẫu mã bao bì, cần phát huy khả năng sáng tạo của người làm chè để tạo nên lẵng hoa trà đẹp thay thế dần lẵng hoa tươi biếu tặng trong các sự kiện. Có những hình thức thích hợp tạo tác “hoa lộc” để thay đổi thói quen hái và xin lộc, hoặc mua gói muối, hoa giả… bằng hoa trà tại đền chùa, nơi thờ tự.

Cây chè và sản phẩm trà đã tạo nguồn thu nhập ổn định và sinh kế bền vững cho bà con nông dân. Trong những búp chè tươi non cả bốn mùa sắc xuân luôn ngập tràn. Vẻ đẹp những nương chè và bản sắc văn hóa đã góp phần làm nên một Thái Nguyên đậm đà sắc hương trong lòng bè bạn. Với cách nghĩ, cách làm như hiện nay, chắc chắn làn hương các sản phẩm trà sẽ ngày càng bay xa.