Tôi nhớ Tết không phải vì bông mận đầu sàn bắt đầu hé nụ trở mình trong tiết trời lất phất mưa xuân; cũng không vì phải lòng cành đào khoe mình điệu đà trong chiếc váy hồng rung rinh trong gió hay tiếng chim sâu nho nhỏ lích chích trong bụi cải vàng tươi... Tôi nhớ Tết bởi tình người nôn nao ấm áp áp, bởi tình xuân cứ ngây ngất hương lòng.
![]() |
| Minh họa: Thanh Hạnh |
Bản tôi nằm nép mình bên sườn đồi, có những dãy nhà sàn cách nhau chỉ một con đường hay thửa ruộng, bao đời người dân sống đoàn kết yêu thương như thế. Tôi thích nhất những ngày giáp Tết. Cả bản chẳng ai bảo ai, chỉ cần trưởng bản báo ngày mai mọi người giúp nhau vệ sinh đường làng, ngõ xóm thì chỉ loáng một cái con đường đã sạch tinh tươm đón Tết. Mỏ nước đầu bản cũng rộn ràng tiếng các bà các mẹ chuẩn bị lá dong, vo gạo, cọ rửa xoong nồi... Mỗi người mỗi câu chuyện mà chẳng thấy vơi bao giờ tiếng nói cười.
Bình thường người dân ở bản tôi rất bận rộn với công việc đồng áng, nương rẫy… chẳng mấy khi mọi người ngồi với nhau nên Tết chính là dịp để họ quây quần. Ngồi bên nhau kể những câu chuyện của bản làng, của bản; những điều đã làm được, chưa làm được hay còn đang dang dở của năm cũ và còn cả những hoạch định cho năm tới ra sao.
Trong không khí náo nức ấy tôi thấy nhớ biết bao cảnh mọi người giúp nhau thịt lợn đón Tết. Chẳng biết tục đó có từ bao giờ, tôi chỉ biết mỗi khi Tết chạm ngõ thì ngay từ Hai mươi sáu tháng Chạp trở đi, bản tôi đã eng éc tiếng lợn kêu mỗi ngày. Nhưng để cuối năm có một con lợn ngon đón Tết, một con lợn tự tay mình nuôi từ chuối, ngô của nhà trồng thì người dân bản tôi, nhất là các bà, các mẹ đã rủ nhau chọn lợn giống từ đầu năm trước. Và với sự chịu thương chịu khó của đôi bàn tay tần tảo thì thành quả là những con lợn với bộ lông dài, đen mượt chừng bảy đến tám mươi kilogam là niềm vui lớn đối với mỗi gia đình.
Tôi cũng chẳng thế nào quên về con lợn Tết mà chị em tôi vất vả nuôi năm ấy. Ngày đó, mỗi lần đi học về, lùa vội bát cơm trưa xong tôi và lũ trẻ trong làng lại đuổi trâu lên đồi đến chiều tối mới về.
Suốt cả ngày chăn trâu, ngoài thời gian nô đùa cùng nhau, lũ chúng tôi không quên nhiệm vụ của mình đó là lấy thức ăn cho lợn. Kiếm đồ ăn cho nó quả không dễ. Có khi phải lội xuống ruộng thụt để cắt bó mon hay xuống khe suối để tìm chuối rừng cho chúng.
Chuối rừng cũng có hai loại. Loại mà bông chuối đỏ tươi mọc thẳng lên trời như ngọn nến giữa rừng xanh, thân màu nâu đen, lá bóng và giòn ấy thì lũ lợn lại không thích vì nó chát và cứng, người làng tôi gọi đó là chuối khé. Mà loại chuối lợn thích ăn phải là chuối vàng. Loại chuối có thân cây mọng nước, vỏ ngoài vàng và nõn chuối mềm thơm. Hoa chuối không đỏ tươi và cũng không mọc thẳng đứng lên trời như chuối khé mà chúc xuống như chuối nhà trồng. Loại chuối ấy có tàu lá to, mượt, có độ mềm và dẻo hơn so với lá chuối khé. Nhất là hoa chuối vàng mà làm nhân bánh nếp và gói trong chính lá đó thì ngon thơm biết nhường nào. Cũng có khi không tìm được hai loại thức ăn đó thì tôi lại phải mò lên rừng tìm lá cây mạy sla để thái ra nấu cho chúng nồi cám…
Pá, mé bận bịu với ruộng đồng nên thường dặn chị em tôi: hai chị em cố gắng chăm đàn lợn cho tốt, cuối năm mé bán đi thế nào các con cũng có quần áo mới chơi Tết. Và nhất là sẽ để dành thịt một con cho ấm nhà ấm cửa. Nghe đến quần áo mới, nghe đến thịt lợn Tết là chị em tôi lại hớn hở vui mừng, bao nhiêu cái mệt cũng theo làn hơi nồi cám lợn tan trong không trung...
Thích nhất là lũ trẻ con chúng tôi mỗi khi theo các bác, các chú đi thịt lợn. Nhà này hôm nay thịt thì sẽ nhờ mấy người giúp nhau và sẽ tổ chức bữa cơm ăn trước Tết gọi là kin nựa mu (bữa cơm thịt lợn). Lũ trẻ khi đó lại được cho những miếng thịt nạc ngon nhất, xiên vào chiếc que vót nhọn rồi tự nướng trên đống than cháy dở của các chú, các bác đun nồi nước cạo lông lợn. Đứa nào mặt mũi cũng lem nhem và mắt ướt cay xè khói bếp. Ấy vậy mà tiếng cười chẳng khi nào vơi trên đôi môi còn thơm mùi thịt nướng, trên đôi má bồ quân đượm mùi khói bếp.
Rồi cứ thế nhà này thịt lợn lại đến nhà kia, nếu nhà nào ít người hoặc không đủ điều kiện thịt cả con sẽ chung nhau với nhà khác. Cho đến hôm Ba mươi Tết thì mọi nhà đã có thịt, lạp sườn từng vòng trắng hồng đan xen thịt mỡ nạc treo trên gác bếp hay từng chum thịt muối cũng được đặt ngay ngắn cạnh bếp củi. Đó là những món ăn từ bao đời nay của ông bà chúng tôi truyền lại và cũng là cách để ông bà xưa bảo quản thức ăn cho cả năm.
Các bà, các mẹ cũng chẳng kém phần bận rộn. Sau khi đã chuẩn bị đủ đầy nguyên liệu gói bánh chưng thì đầu sàn lại râm ran tiếng nói chuyện của các bà. Người tước lạt, người lau lá, cắt lá, người gói..., mỗi người mỗi việc. Chẳng mấy chốc, từng chiếc bánh chưng vuông vắn không cần khuôn cũng đã được xếp gọn gàng trong dậu, đan xen với những chiếc bánh chưng gù trông thật nổi bật khi những khoanh lạt trắng như được khắc trên nền lá dong xanh mướt.
Tình làng nghĩa xóm cứ nối nhau qua bao thế hệ. Trở về vào dịp Tết được nhìn thấy mọi người giúp nhau thịt lợn, cùng nhau gói từng chiếc bánh chưng thơm mùi gạo nếp, thấy làng xóm sạch đẹp, người dân bình an lòng không khỏi nhiều cảm xúc đan xen: niềm vui, niềm tự hào xen lẫn cả niềm biết ơn đối với quê hương, làng bản. Tình cảm đó không hoa mỹ, cầu kỳ, không nói ra nhưng cứ keo sơn đến lạ kỳ; giản dị mà đầm ấm quá, mộc mạc mà thắm thiết biết bao.
Cuộc sống mỗi ngày mỗi đổi thay nhưng người bản tôi vẫn giữ nếp sống đoàn kết, sẻ chia, thương yêu như thế. Tình người cứ thế bền chặt như mùa xuân chẳng bao giờ ngừng sang, như hoa đào chẳng bao giờ quên nở. Trong tiếng then, tiếng lượn gọi nhau ngày hội lồng tồng, trong hơi xuân phảng phất mưa bay… tình người, tình xuân cứ vấn víu không thôi.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin