Trong câu chuyện về gia đình, mẹ luôn nhắc nhiều về những ngày xưa thương nhớ. Thuở ấy, đất còn rộng mênh mông, vườn na, vườn ổi nối nhau trải dọc sân, và những luống chè xanh mướt quanh nhà chính là nguồn sống chính của cả gia đình. Mẹ nhớ ông ngoại biết chừng nào là nhớ! Mẹ hay kể về những mùa chè, những vụ chè cả nhà quây quần bên bếp lửa, thay nhau sao suốt đến tận khuya, tiếng lách tách trên chảo gang, rồi hương chè thơm lừng toả khắp mái nhà tranh.
![]() |
Ngày đó, vườn chè trước nhà như tấm lụa xanh trải nghiêng theo những triền đồi. Luống nào luống đấy mướt mát, thẳng băng và gọn gẽ. Mấy anh em chiều về là đi gom lá khô phủ lên gốc chè để giữ ẩm. Ông dặn phải làm vậy, cây chè mới khỏe, đọt chè mới mập.
Nhưng nghề chè thật vất vả, mỗi mùa lại chất chồng những nỗi lo riêng. Một trận rét muộn, lứa chè non có thể sượng, một cơn mưa đá bất chợt cũng đủ làm lá dập lá nát, trời nắng to chè thêm vị chát, trời mưa nhiều búp chè lại nhạt. Mùa qua mùa, năm qua năm, người làm chè vẫn thấp thỏm một nỗi niềm muôn thuở: không biết trời đất năm nay sẽ đãi cây chè ra sao.
Ngày đó, vào vụ chè xuân, mẹ tôi và dì tôi đi hái búp non, nhất định là phải đúng một tôm hai lá. Sáng sớm sương còn giăng giăng kín triền đồi, hai chị em đã quẩy giỏ bước vào vườn chè. Đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày mà búp chè giữ được trọn vẹn linh khí đất trời Tân Cương. Mà sương sớm trên núi đồi Tân Cương thì lạnh thấu da, thấu thịt. Từng đầu ngón tay tê cứng, buốt giá vô chừng.
Cũng như đôi chân người làm ruộng giữa trời đông, ban đầu tê cóng là thế, nhưng càng làm, càng đều, càng say, bàn tay dần ấm lên lúc nào chẳng hay. Những búp non được ngắt ra dứt khoát, vừa không hại cây, mà tôm chè không dập nát, chẳng bị hao hụt chút tinh chất nào. Những búp chè như thế, nêm chặt tay chị, tay em, được xếp tăm tắp đầy gùi như những mầm ngọc đầu xuân. Trái tim trẻ thơ rộn lên một niềm hoan hỉ, mơ hồ mà trong trẻo.
Tôi mường tượng cảnh ông ngoại đang rảo tay xếp những đọt chè non lên chiếc nong tre ngoài hiên, rồi chờ cho lá cuộn mềm mới bước vào lượt sao đầu. Ông sẽ tự tay sao chè trên bếp củi đắp bằng đất đồi. Chảo gang vừa tới lửa, chè được đổ vào. Đôi tay người thoăn thoắt đảo trên mặt chảo, phải đảo thật đều, thật nhanh và thật nhịp nhàng. Quan trọng nhất là giữ cho đúng mực lửa. Lửa to quá chè dễ khét, lửa nhỏ quá lại khó dậy hương. Lúc nào cần rụi củi để mực lửa vừa vặn tôn lên hương chè, thì cần phải căn vào lượng chè, vào thời vụ và khí tiết mà quan trọng hơn cả là những cảm nhận rất vi tế bằng tay, bằng mắt, bằng mũi và bằng những trải nghiệm nhiều năm sống trên đất chè.
Xong lượt sao đầu, ngay lập tức phải chuyển sang công đoạn vò chè. Ngày ấy, mọi thứ hoàn toàn bằng tay. Ông như một nghệ nhân làm chè lão luyện, đôi tay đưa thật khéo, lá dập vừa tới mà không một cánh nào bị nát vụn. Đây chính là công đoạn quan trọng nhất để tạo thành tinh túy của “Thượng phẩm đệ nhất trà” thời đó. Lúc đầu chỉ vò khẽ, rồi từng chút siết tay nặng hơn, để lá thu mình lại, săn chắc dần. Công đoạn này kéo dài khoảng hai đến ba chục phút, tùy từng mẻ chè.
Vò xong, rồi lại kê lên bếp sao tiếp, lại vò, lại sao, lại vò… Cứ thế sao suốt cho đến khi những sợi chè cong cong như hình móc câu. Bấy nhiêu công sức và bốn cân lá tươi cũng chỉ thu được non nửa cân chè khô. Quý như vàng xuân.
Ngày đó, nhà chỉ là mái tranh vách đất, tài sản quý nhất có lẽ là bộ ấm chén tử sa bằng đất nung thủ công. Không tráng men nhưng chắc như sứ. Ông cất kĩ trong hòm gỗ, mỗi khi nhà có khách mới lấy ra dùng như thêm chút trang trọng cho khoảnh khắc thưởng trà. Nước giếng thơi đã đun sôi nhưng bao giờ người cũng để chậm lại vài giây trước khi châm vào ấm. Những sợi chè được vò kĩ dần mở ra. Chậm. Rất chậm. Một làn hương mỏng, nhẹ như mùi cốm non thoảng trong không gian. Nhấp một ngụm vị chát chỉ thoáng qua rất nhẹ, nhường chỗ cho vị ngọt âm thầm lan trong cuống họng.
Thứ ngọt sâu lắng ấy thường neo lại trong miệng có khi cả ngày trời. Đó là vị ngọt tự nhiên, vị ngọt nội tại của chất chè được chăm bằng đôi tay người, bằng hơi lửa đều đặn và những đường vò chuẩn tầm. Đó là vị ngọt của sương nắng Tân Cương, của mồ hôi rơi qua bao tháng ngày tần tảo.
Bây giờ cuộc sống đã không còn khó khăn như trước, con cháu mỗi người một nghề, đi xa hay ở gần cũng đã dựng được cơ ngơi cho riêng mình. Ông ngoại đã hoà vào gió núi mây ngàn, vào mênh mông triền chè xanh thắm. Mẹ nay cũng ngoài bảy mươi, người vẫn khoẻ, vẫn kiên nhẫn ngồi tụng thời kinh khuya.
Và những câu chuyện làm chè mẹ kể mãi, kể hoài mà như chẳng bao giờ hết. Mỗi lần mẹ thủ thỉ những câu chuyện quen, tôi lại thoáng thấy mùi trà cũ, thấy bóng ông ngoại xoay trần bên bếp đất, đôi tay người thoăn thoắt đảo chè trên chiếc chảo gang đen bóng…








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin