Ba tôi là một trí thức Tây học lịch lãm, từng nhiều năm sinh sống và làm việc giữa những thành phố hiện đại ở Tây Đức, thông thạo Anh, Đức, Pháp, Trung. Sau quãng thời gian dài xa quê hương, ông trở về, lặng lẽ gắn bó với nghề dịch thuật và giữ cho riêng mình một thú vui cổ truyền: uống trà.
Ba chưa bao giờ nói ra tình yêu với trà, nhưng tôi luôn cảm nhận được điều ấy qua ánh mắt hiền hòa, qua cử chỉ chậm rãi, nâng niu mỗi khi ông tự tay pha trà mời con rể trong những buổi hai cha con cùng ngồi xem tennis trên truyền hình.
![]() |
| Minh họa: Dương Văn Chung |
Ba rót nước sôi vào phích, thong thả tráng ấm. Chiếc ấm sứ men ngà, món quà mang về từ những năm sống ở Tiệp Khắc, nay đã sứt một mảnh nhỏ ở quai, nhưng ông vẫn ưa dùng, bởi nó gắn với bao tháng ngày lênh đênh trên đất khách. Khẽ nhón một nhúm trà thả vào ấm. Dòng nước sôi đầu tiên được rót vào, cổ tay xoay nhẹ để “đánh thức trà”, như cách ba vẫn gọi, rồi đổ bỏ. Lần thứ hai, nước được châm đầy, nắp ấm khẽ đậy, những cánh trà dần bung nở, tỏa hương thơm dìu dịu khắp căn phòng.
- Trà chuẩn vị Tân Cương đấy, bạn uống thử xem.
Ba tôi thường xưng hô như thế, có lẽ chịu ảnh hưởng từ những năm dài sinh sống nơi trời Tây. Hai cha con ngồi cạnh nhau, thong thả nhấp từng ngụm trà, vừa theo dõi vừa bàn luận sôi nổi về các trận tennis trên màn hình. Khi một pha bóng trượt đáng tiếc, ba khẽ thốt lên “oh no!”, hai bàn tay vỗ nhẹ vào nhau rồi đưa ra trước, như muốn đỡ lấy cú đánh hụt. Những khoảnh khắc giản dị, đời thường ấy đã in sâu vào ký ức tôi, theo tôi suốt bao năm tháng sau này.
Với ba tôi, trà không chỉ là một thức uống, mà như một người bạn đồng hành trong công việc dịch thuật hàng ngày. Sau mỗi bữa sáng, ông lặng lẽ ngồi bên chiếc ấm sứ cũ mòn, thong thả nhấp từng ngụm trà như để lấy lại sự tỉnh táo và tập trung. Hương trà ấm quyện cùng tiếng nhạc “Em ơi Hà Nội phố…” vang lên từ chiếc loa cũ, đưa ông trở về miền ký ức và những ước mơ chưa trọn với Hà Nội. Giây phút ấy, tôi biết ba đang sống cho riêng mình, cho một phần ký ức thời trai trẻ. Rồi khi chén trà cạn, ba lại trở về với công việc. Ở góc bàn, có tờ giấy khổ A4 với hàng chữ Hán nắn nót, mực đen đậm rõ: “工作是我的生活” (Công việc là cuộc sống của tôi).
Có lẽ chính những buổi trà tĩnh lặng ấy đã nuôi dưỡng con người ba tôi, làm nên vẻ hiền thiện của một người trí thức từng trải. Chú tôi mỗi lần lên chơi hay đùa: “Ba mày chỉ đi cảm ơn hay xin lỗi là hợp nhất!”. Ba cười khẽ, đưa bàn tay vuốt mái tóc lưa thưa ra phía sau. Ánh mắt hiền như chở cả một đời nhẫn nhịn, bao dung. Thấu hiểu tất cả, nhưng trước những điều bất như ý ông thường chỉ im lặng. Trong tiếng Hán, ông rất thích chữ 忍 (nhẫn) và coi đó như nguyên tắc xử thế của đời mình.
Có lần ba đã chiết tự chữ 忍 (nhẫn) cho tôi hiểu: trên là bộ 刃(đao) tượng trưng cho thử thách, hiểm nguy. Dưới là chữ 心(tâm) tượng trưng cho trái tim, tấm lòng. Những người trải qua cảnh nguy nan như dao kề trên tim mà vẫn giữ được chữ 心 (tâm), mới là người đạt được chữ 忍 (nhẫn). Ba nhắc nhở các con: “Vợ chồng biết nhẫn nhịn nhau con cái khỏi bơ vơ; anh em biết nhẫn nhịn nhau trong nhà thường yên ấm; bạn bè biết nhẫn nhịn nhau tình nghĩa chẳng bao giờ phai mờ”.
Cả cuộc đời ba tôi đã sống trong sự nhường nhịn đáng kính như thế!
Sau này, khi lên Thái nguyên học tập, như mối duyên đã định, ông đem lòng thương cô gái xứ chè, người sau này trở thành mẹ tôi. Từ ngày ấy, trà đã trở thành bạn đồng hành thân thiết, theo ông suốt cả cuộc đời. Nhiều lần, tôi thấy ba tỉ mỉ chuẩn bị những gói trà ngon nhất gửi cho bạn bè, anh em khắp nơi từ Hà Nội đến quê hương Hưng Yên hay vào miền Nam và cả Tây Đức xa xôi. Mỗi gói trà không chỉ là hương vị quê nhà mà còn là tấm lòng thơm thảo, hiền hòa người gửi trao với biết bao tình thương mến.
Những ngày cuối đời, ba thôi uống trà. Nhà không còn tiếng nước rót vào ấm mỗi sáng. Nhưng đôi tay gầy yếu vẫn kiên nhẫn làm nốt phần việc cuối cùng, lưu lại vài phần mềm tự học tiếng Anh cho các cháu. Tôi đứng lặng, nhìn ba gắng ngồi bên bàn máy tính cũ, đôi mắt mệt mỏi, mái tóc gần như rụng hết, nhịp thở mỏng hơn khói trà. Cảm giác bất lực siết chặt lấy tôi, rồi ba sẽ không còn đủ sức để “đánh thức trà” như người vẫn từng làm mỗi buổi sớm, không còn được ngồi xem tennis cùng người con rể mà ông hết mực yêu quý…
Ba rời cõi tạm nhẹ nhàng như làn khói trà tan vào gió, như một thiền nhân đã uống cạn chén trà kiếp người, bình thản đón nhận vô thường, không vướng bận, không bi lụy. Mỗi lần, dâng chén trà lên ban thờ, một làn khói mỏng tang vờn quanh di ảnh, hương trà vẫn thoảng, vị trà vẫn đậm mà người nâng chén đã đi xa. Tôi đã khóc. Nhưng rồi, bỗng nhận ra rằng ý nghĩa sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học. Sắc thân ba tôi không còn nữa nhưng người vẫn sống trong một đời sống khác, sống trong trái tim những người thân yêu.
Bởi thế, hôm nay khi đặt tay lên chiếc ấm sứ quen, tôi vẫn thấy hơi ấm của người còn vương như chưa từng nguội trong căn phòng này…








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin