Hướng ấy, là Vạn lý Trường Sa - một tác phẩm lay động sâu thẳm về lòng yêu nước và tự hào dân tộc

Nguyễn Đức Hạnh 10:58, 17/03/2026

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là một trong những gương mặt thơ nữ hàng đầu của Văn học Thái Nguyên và của thơ nữ Việt Nam đương đại. Bên cạnh thơ, chị còn có những tác phẩm ký xuất sắc mà “Hướng ấy, Vạn lý Trường Sa” là một ví dụ tiêu biểu. Tác phẩm đã được tuyển chọn đưa vào chương trình Văn học địa phương Thái Nguyên lớp 12, tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Thái Nguyên. Tác phẩm đã được các thầy cô giáo, các em học sinh cấp THPT tại Thái Nguyên đón đợi, tiếp nhận với cảm xúc vừa nghẹn ngào đau xót vừa trào dâng lòng biết ơn và tinh thần tự hào dân tộc.

Ảnh: Việt Hùng

Viết về quần đảo Trường Sa thiêng liêng và những người lính đảo anh hùng thật khó. Đã có hàng vạn người đến và viết, tập hợp lại có lẽ đã có hàng ngàn tác phẩm viết về đề tài này. Nhưng bằng trái tim mẫn cảm của một nhà thơ, bằng trí tuệ sắc sảo của một nhà báo tài năng, chị đã có một tác phẩm xuất sắc. Vậy thì điều gì khiến cho tác phẩm này lay động mạnh mẽ, ở lại lâu bền trong trái tim bao người đọc?

Bên cạnh cách kể chuyện giản dị, hàm súc mà gợi mở vô cùng, như khi chúng ta chạm ngón tay xuống nước, để rồi những vòng sóng đồng tâm lan toả, tôi thấy có ba chi tiết nghệ thuật đắt giá xuất hiện ở đầu - giữa và kết thúc tác phẩm, tạo ra ba điểm nhấn cho mạch chuyện giàu cảm xúc và suy tư này. Giữa bộn bề bao nhiêu chi tiết, sự kiện diễn ra trong một hành trình nhiều sóng gió, tài năng của người viết là nhìn ra, chọn đúng những gì có giá trị thẩm mĩ nổi bật nhất, rồi đặt chúng vào một cấu trúc nghệ thuật “đắc địa” nhất. Điều ấy thật khó như phải chọn ra viên ngọc trai đẹp nhất trong hàng ngàn viên ngọc trai vừa đưa lên từ biển cả vậy.

1. Chi tiết lá thư của một chàng thủy thủ rất trẻ gửi bố là liệt sĩ hy sinh trên đảo Gạc Ma

Khi Nguyễn Thúy Quỳnh cùng đoàn chuẩn bị lên tàu ra Trường Sa, họ gặp chàng thủy thủ công tác trên tàu HQ 501 có tên Nguyễn Tiến Xuân, được nghe một lời nhắn gửi: “Các chú cho cháu gửi bức thư này cho bố cháu ở Trường Sa”. Trên thư có đề “Gửi ba Phong đảo trưởng đảo Gạc Ma”. Nhưng lúc đó đảo Gạc Ma đã bị quân xâm lược chiếm giữ? Người đảo trưởng anh hùng Nguyễn Mậu Phong đã hy sinh cùng 63 đồng đội trong cuộc chiến đấu đẫm máu bảo vệ đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988? Nước mắt tôi, có lẽ của nhiều người đọc khác, lặng lẽ trào ra. Một lá thư gửi cho người đã khuất. Có biết bao đau thương và bi tráng trong lá thư này?!

Hai người con trai của liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong đều đã trở thành chiến sĩ hải quân. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của Tố Hữu khi nghĩ về họ, về những thế hệ anh hùng tiếp nối nhau thật dũng cảm của dân tộc Việt Nam mình:

- Lớp cha trước lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành ...

Bức thư này được trân trọng, nâng niu cài vào vòng hoa thả xuống biển trong lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh trên vùng biển Trường Sa. Linh hồn Liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong nếu đọc được bức thư ấy hẳn sẽ ấm áp hơn khi nằm dưới đáy đại dương lạnh lẽo?!

2. Chi tiết những dòng nước mắt trong lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Trường Sa

Người viết bài này cũng từng ra Trường Sa, từng khóc nghẹn trong lễ tưởng niệm như thế, nhất là khi nhìn theo vòng hoa xoay tròn nhiều vòng trước khi về phía đảo Gạc Ma. Nhưng khi đọc những dòng chữ này của Nguyễn Thúy Quỳnh, tôi cảm ơn chị đã nói thay tôi, thay cho triệu người những nỗi niềm quặn thắt không nguôi: - “Vẫn biết sự hy sinh nào cũng đau đớn như nhau, nhưng cứ nghĩ đến những người lính hy sinh trên đảo Gạc Ma, xác tàu còn đó mà chưa thể quy tập được hài cốt, và những người vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển lạnh lẽo thềm lục địa sau cơn bão tố định mệnh thì nỗi đau trong lòng người sống quặn thắt hơn”...

Chắc chắn có rất nhiều người đã không cầm được nước mắt trong lễ tưởng niệm ấy, nhưng tác giả bài ký miêu tả “cận cảnh” một người lính hải quân có tuổi, có lẽ cùng trang lứa với những người anh hùng nằm lại với đại dương kia. Ông lặng thầm khóc ở một góc boong tàu, bàn tay chai sần vụng về lau những dòng nước mắt đang chậm rãi bò xuống gò má.

Chỉ cần như vây, kèm theo một câu nói của Trần Đăng Khoa, nhà thơ từng là lính đảo Trường Sa cũng đã đủ gợi mở bao cảm xúc, suy tư của người đọc về sự bi hùng này: "Trường Sơn đã là nghĩa trang rừng. Bây giờ ta lại có nghĩa trang nước, nghĩa trang biển...”. Chúng ta càng thấm thía hơn về cái giá phải trả cho cuộc sống hoà bình, hạnh phúc của đất nước ta hôm nay, về lòng biết ơn và tự hào dân tộc đã và sẽ như ngọn lửa bất tử cháy không thôi trong bão táp lịch sử.

3. Chi tiết trái tim san hô màu đỏ

Nguyễn Thúy Quỳnh đã mang từ Trường Sa về một quà tặng vô giá của những người lính Trường Sa: - Trái tim san hô màu đỏ. Đó không chỉ là vật lưu niệm?! Tôi rưng rưng mà nghĩ, những giọt máu của bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống khi xây dựng, bảo vệ Trường Sa đã nhuộm san hô nơi đây có màu đỏ. Những cây san hô ấy đã mang lời nhắn thiêng liêng gửi về đất liền: - Trường Sa là “phên dậu” xa nhất của Tổ quốc. Những người con của đất Việt lấy máu của mình “đánh dấu chủ quyền “cho đất nước - những” dấu mốc” bi hùng. Mong các thế hệ sau sẽ luôn nhớ về điều đó!

Đọc xong những dòng cuối của tác phẩm mà trái tim tôi không thể ngủ yên. Tiếng rung ngân thổn thức của một trái tim nghệ sĩ đã tìm được sự đồng vọng của bao trái tim bạn đọc. Để rồi từ sự “nổi sóng” trong tâm hồn mà đi đến những hành động cao đẹp vì Trường Sa, vì Tổ quốc yêu dấu của mình, để triệu người như một cùng nhìn về một hướng:

- “Hướng ấy, là Tổ quốc.

Hướng ấy, là Vạn lý Trường Sa”.

Văn nghệ Thái Nguyên số 17 xin trân trọng giới thiệu bút ký cùng bạn đọc

(PGS.TS., nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh chọn và giới thiệu)

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam - hội viên Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. 
Tác phẩm chính: Giá mà em từ chối (thơ), NXB Văn hoá dân tộc - 2002, Mưa mùa đông (thơ), NXB Hội Nhà văn-2004, Những tích tắc quanh tôi (thơ), NXB Hội Nhà văn - 2012, Hai phía phù sinh (thơ), NXB Hội Nhà văn - 2018, Vạn lý yêu thương (bút ký, phóng sự), NXB Hội Nhà văn - 2018. 
Giải thưởng: Tặng thưởng Tác phẩm Tuổi Xanh, báo Tiền Phong, năm 1998. Giải B Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2004. Giải C Cuộc thi thơ 2003-2004 của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Giải thưởng VHNT tỉnh Thái Nguyên các giai đoạn 2001-2005, 2006-2011.

 

NGUYỄN THÚY QUỲNH

 

Hướng ấy, là Vạn Lý Trường Sa

 

Trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ”- tấm bản đồ do nhà Nguyễn vẽ năm 1838 - chỉ rõ, ở bên cạnh, gần miền Trung là quần đảo Hoàng Sa, phía dưới  là Vạn Lý Trường Sa. Cuốn “Hải Lục” của Vương Bính Nam - một người Trung Quốc chép năm 1842 viết “Vạn Lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu của An Nam”.

Và tôi đã trở thành một trong những người Việt hạnh phúc nhất khi được đặt chân lên dải phên dậu kiêu hãnh ấy - Vạn Lý Trường Sa.

Trước khi ra Trường Sa, tôi tìm đọc nhiều loại báo chí, tư liệu viết về Trường Sa của lớp lớp đồng nghiệp đi trước, vừa để có những hiểu biết cơ bản, vừa để tránh lặp lại những gì họ đã viết. Càng đọc càng thấy… lo lắng, vì Trường Sa là khu vực thông tin ưu tiên của tất cả các báo, nên đã được khai thác kỹ lắm rồi, không biết mình còn gì để viết?! Khi lên tàu, lại “choáng” vì chuyến này có tới hơn ba mươi nhà báo, nhà văn. Ấy là mới có một đoàn công tác, còn mười mấy đoàn ra Trường Sa mùa này nữa, thì nhà báo có mà… “đông hơn quân Nguyên”! Chúng tôi bảo nhau: Thế này thì… gay rồi, đụng hàng chan chát cho mà xem.

Ấy vậy mà bây giờ ngồi đọc lại những gì các nhà báo có mặt trên tàu HQ 996 chuyến ấy viết, mới thấy hóa ra là không phải vậy. Bài viết nào cũng chân thực và giàu cảm xúc nhưng lại không mấy “đụng hàng”, bởi ai cũng chọn cho mình một góc nhìn riêng, vì thế mà vẫn đảo ấy, người ấy nhưng lạ mà quen, quen mà vẫn lạ! Các đồng nghiệp mà tôi gặp trong chuyến đi này đều cho tôi những ấn tượng đẹp về lòng yêu nghề, sự nghiêm túc và chuyên nghiệp trong quá trình khai thác và xử lý thông tin, để có được những tác phẩm báo chí hay nhất về Trường Sa gửi đến bạn đọc.

Riêng với tôi, câu chuyện về Trường Sa bắt đầu ngay từ trên đất liền.

Chúng tôi lên đường ra Trường Sa từ cảng Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh. Ra điểm tập kết khá sớm nên mọi người tranh thủ ngắm bình minh trên cảng, chiêm ngưỡng những chiếc tàu dân sự, quân sự đang neo đậu dọc hai bờ sông Đồng Nai mênh mông. Chợt có một thủy thủ rất trẻ trên tàu HQ 501, chiếc tàu vận tải quân sự thuộc biên chế của Lữ đoàn 125 Hải quân bước vội xuống và hỏi:

- Có phải các cô chú ở trong đoàn chuẩn bị ra Trường Sa không ạ?

 Những cái gật đầu thay cho lời xác nhận. Chàng trai vội móc trong túi áo ra một phong bì thư và nói:

- Các chú cho cháu gửi bức thư này ra cho bố cháu ở Trường Sa.

Người đón nhận bức thư là Thiếu tá Lê Thế Phong, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Tổng cục An ninh 1 Bộ Công an. Nhìn địa chỉ trên phong bì, anh sững sờ. Thư đề: “Gửi ba Phong, Đảo trưởng đảo Gạc Ma”. Mọi người đều lặng đi.

Thì ra chàng thủy thủ này chính là Nguyễn Tiến Xuân, một trong hai người con trai của liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong, người đảo trưởng đã ngã xuống cùng 63 đồng đội của mình trong cuộc chiến đấu đẫm máu bảo vệ đảo Gạc Ma trước sự xâm lược của Trung Quốc, ngày 14/3/1988. Câu chuyện cảm động về gia đình liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong đã được đăng tải trên nhiều trang báo. Ngày ba Phong hy sinh, Xuân mới bốn tháng tuổi, anh trai Nguyễn Mậu Trường 2 tuổi. Ở quê hương gió Lào cát trắng Lệ Ninh - Quảng Bình, người mẹ trẻ Trần Thị Liễu đã chèo chống với cuộc sống gian nan, nuôi hai cậu con trai khôn lớn, để rồi họ lại tiếp bước người cha thân yêu, trở thành chiến sĩ hải quân. Cả hai anh em đều lần lượt xung phong ra Trường Sa. Sau 4 năm gắn bó với các đảo, bây giờ Trường đã giải ngũ. Còn Xuân, sau kỳ thực tập trên Tàu 501 sẽ tốt nghiệp Học viện Hải quân, chính thức trở thành sĩ quan như cha anh, Thượng úy Nguyễn Mậu Phong.

Biết chuyến tàu của chúng tôi không đi qua khu vực Cô Lin - Gạc Ma, Xuân hơi buồn, nhưng vẫn gửi thư đi, vì đoàn công tác nào cũng làm lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trên biển Trường Sa. Xuân dặn: “Chừng nào làm lễ tưởng niệm, chú gửi thư cho ba cháu giúp cháu nhé”.

Bức thư của người con trai gửi người cha đã khuất được Thiếu tá Công an Lê Thế Phong nâng niu và trân trọng cài vào vòng hoa trong lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh trên vùng biển Trường Sa. Không ai nỡ hỏi Xuân tâm sự gì với cha, bởi Xuân cũng đã từ chối khi chúng tôi ngỏ ý muốn viết báo về việc này. Xuân bảo đây là chuyện tình cảm của hai cha con thôi. Nhưng chắc chắn bức thư ấy sẽ mang niềm thương nhớ không nguôi của một người con chưa từng biết mặt cha mình. Nhận được thư con, ở nơi biển sâu lạnh giá, linh hồn liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong chắc cũng ấm áp hơn.

Cùng đi trong đoàn công tác có nhà thơ Trần Đăng Khoa, người đã từng là lính Trường Sa. Tôi ám ảnh mãi câu nói của tác giả Đảo chìm trong chuyến trở lại Trường Sa lần này: “Đất nước mình đâu đâu cũng có nghĩa trang. Trường Sơn đã là nghĩa trang rừng. Bây giờ ta lại có nghĩa trang nước, nghĩa trang biển. Biển Đông này, Trường Sa này, là một nghĩa trang khổng lồ. Đã có những đồng chí, đồng đội của tôi vĩnh viễn ở lại với biển”.

Quả là như thế. Nơi Biển Đông thăm thẳm và mênh mông này, không ai tính được đã có bao nhiêu con cháu Lạc Hồng dâng hiến sinh mạng mình cho Tổ quốc. Trên những chiếc thuyền gỗ của hải đội Hoàng Sa, trên những con tàu không số, rồi những con tàu mang phiên hiệu HQ 505, HQ 604, HQ 605, các thế hệ người Việt đã nối tiếp nhau mở mang và giữ gìn bờ cõi. Và ngay cả giữa thời bình, máu của những người lính vẫn không ngừng đổ xuống. Trên các đảo Trường Sa lớn, Trường Sa Đông, Nam Yết, Sơn Ca hôm nay, vẫn còn đó mộ phần của những người lính trẻ hy sinh khi làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đảo. Họ nằm đó, gối đầu lên cát trắng biển xanh, trong niềm thương yêu của đồng đội.

Vẫn biết sự hy sinh nào cũng đau đớn như nhau, nhưng cứ nghĩ đến những người lính hy sinh trên đảo Gạc Ma, xác tàu còn đó mà chưa thể quy tập được hài cốt, và những người vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển lạnh lẽo thềm lục địa sau cơn bão tố định mệnh, thì nỗi đau trong lòng người sống lại quặn thắt hơn. Bởi thế, lễ tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ hy sinh trên biển Trường Sa và thềm lục địa, một nghi lễ tri ân của mỗi đoàn công tác, luôn được tổ chức trong niềm thành kính và đau đớn nhất. Có mặt trong giờ phút thiêng liêng, trong tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ trầm mặc, trong khói hương nghi ngút, kính cẩn chắp tay trước ban thờ vọng anh linh các liệt sĩ, tự tay thả những bông hoa cúc vàng xuống mặt biển xanh dập dờn khi còi tàu cất lên ba hồi dài vĩnh biệt các anh, tôi không thể nào nén được những dòng nước mắt chảy tràn quanh tôi, khắp boong tàu, những mái đầu bạc, đầu xanh run run trong u uẩn khói hương, những tiếng nấc nghẹn ngào cố nén lại để đừng bật lên, những bàn tay thô ráp vội lau nước mắt…

Tôi sẽ không thể nào quên một bàn tay như thế trong buổi sáng làm lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh, tại khu vực nhà giàn DK 1/14 bãi Tư Chính.

Sau trận Gạc Ma, một số tàu chiến, tàu thăm dò của nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện sâu trong thềm lục địa phía Nam của ta, nơi có tiềm năng lớn về dầu khí và có ý nghĩa chiến lược về an ninh, quốc phòng. Trước tình hình đó, ngày 17 tháng 10 năm 1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký Văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam. Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị về việc xây dựng “Cụm kinh tế - khoa học dịch vụ trên thềm lục địa phía Nam thuộc đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo” (gọi tắt là DK1). Sứ mệnh gian khó này được đặt lên vai các cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 171 Hải quân. Khi hệ thống nhà giàn DK1 từng bước được thiết lập trên thềm lục địa phía Nam, những cơn bão biển hung dữ đã làm đổ một số nhà giàn vào các năm 1990, 1996, 1999 và 2000, nhiều cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ hải quân bảo vệ nhà giàn DK1 đã hy sinh.

Buổi sáng trên boong tàu hôm ấy, sau khi thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ, tôi đến bên lan can, lặng trông về phía nhà giàn DK1/14 mặc cho nước mắt tuôn rơi. Chợt nghe có tiếng nấc phía trước mình, tôi ngẩng lên. Cách tôi mấy bước chân, khuất sau một chiếc phao cứu sinh, một sĩ quan hải quân đang khóc lặng lẽ. Nhìn qua vai, thấy anh không còn trẻ, nên tôi đoán anh cùng lứa với các liệt sĩ hy sinh ở nhà giàn. Anh đứng đó, mặt hướng về nhà giàn, bàn tay sạm nắng và thô ráp chốc chốc lại vụng về lau nước mắt ướt đầm trên má. Tôi không dám làm phiền giây phút riêng tư của anh, chỉ biết hòa chung cảm xúc đau đớn và thành kính của một người lính hướng về những đồng đội đã khuất của mình. Sau đó, trong im lặng, chúng tôi cùng nhau thả hoa và tiền lẻ theo tín ngưỡng tâm linh xuống biển. Và khi tôi còn chưa kịp hỏi chuyện, sắc áo trắng của anh đã lẫn vào trong những sắc áo trắng hải quân trên tàu. Tôi hơi tiếc cơ hội làm quen với anh, chỉ chắc chắn một điều: bàn tay vừa lau nước mắt ấy sẽ sẵn sàng lên đạn và siết cò cho đến hơi thở cuối cùng như đồng đội mình, khi Tổ quốc cần.

Những giọt nước mắt chân thành của anh nói với tôi điều ấy.

Xuất phát trước chúng tôi một ngày là đoàn của đại biểu các tôn giáo và người Việt ở nước ngoài, trong đó có nhiều nhà báo hải ngoại. Xem trên các trang Viet Weekly, Phố Bolsa TV, thấy thông tin và hình ảnh về phần lãnh thổ, lãnh hải xa xôi nhất của đất nước hiện lên đẹp và thiêng liêng vô cùng qua con mắt của các nhà báo ở xa Tổ quốc, càng thấy tinh thần dân tộc, tình nghĩa đồng bào không phân chia biên giới...

Chuyến đi lần này, ngoài những điều đã được nghe, được thấy, được thấm thía, tôi đã mang về được một món quà vô giá, ấy là cây san hô được bộ đội Đá Lát tặng. Bây giờ, cứ mỗi lần ngắm trái tim san hô độc đáo ấy, trong tôi lại dào lên những cơn sóng biển, lại cồn cào nỗi nhớ Trường Sa, và càng thêm trân trọng nghề báo mà mình theo đuổi, cái nghề mà nhờ nó chúng tôi có thể giúp cho người khác tin yêu những gì mình tin yêu, nhất là khi sự tin yêu ấy thật cao cả bởi chúng ta cùng nhìn về một hướng.

Hướng ấy, là Tổ quốc.

Hướng ấy, là Vạn Lý Trường Sa.