Từ trăm năm nay, cây chè như một định vị về vùng đất, con người Thái Nguyên. Bởi trên dọc dài đất Việt, nói đến Thái Nguyên bạn bè nhắc ngay đến chè và trà bằng sự yêu mến. Bạn hữu gặp nhau nơi chân trời, góc bể thường trò chuyện về các loại chè trong nước, thế giới, rồi cuối cùng vẫn quay về với chè Thái Nguyên như một sắp bày. Có người tự hào mình từng được ẩm trà Thái Nguyên chính hiệu. Có người chép miệng mong một ngày đến với Thái Nguyên để được tận mắt chiêm ngưỡng những đồi chè và tự tay pha ấm trà cùng bè bạn “Đàm thiên, thuyết địa, luận nhân tâm”.
![]() |
| Du khách quốc tế thưởng trà và tìm hiểu về nghề trồng, chế biến chè Thái Nguyên. |
Việt Nam là 1 trong hơn 40 quốc gia trên thế giới có kinh tế chè và văn hóa thưởng trà. Ví như Nhật Bản có Trà Đạo, Trung Quốc có Trà Kinh, Việt Nam có Trà Phong. Mỗi quốc gia có niềm tự hào, tự tôn văn hóa dân tộc mình, đó là gốc rễ bền chắc của một dân tộc.
Riêng ở Việt Nam, cây chè hiện diện khắp các vùng miền, từ trung du và miền núi phía Bắc, trải dài vào Tây Nguyên cho đến các tỉnh Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Thế nhưng, chính Thái Nguyên mới là vùng đất hội tụ đầy đủ điều kiện để khẳng định vị thế độc tôn hàng đầu về chè và trà trên cả nước, từ diện tích, sản lượng cho đến hương vị đặc sắc mà khó nơi nào sánh kịp.
Ngoài các giống chè Trung du, chè lai nhập ngoại, Thái Nguyên còn có chè Shan tuyết cổ thụ và Kim Hoa Trà. Trên vùng đất Thái Nguyên, cây chè được trồng trải dài từ các vùng đất thấp cho đến lưng núi bốn mùa mây phủ.
Hiện trên toàn tỉnh có gần 25.000ha chè, trong đó hơn 23.000ha cho thu hoạch, với năng suất bình quân đạt gần 180 tạ chè búp tươi/ha/năm. Theo đó, các vùng chè của tỉnh Thái Nguyên cung cấp ra thị trường trong nước, quốc tế khoảng 83.000 tấn chè búp thành phẩm, tương đương với số tiền khoảng 33.000 tỷ đồng.
Để hiểu sâu hơn về chè và trà Thái Nguyên, chúng tôi tìm đến Không gian văn hóa trà Tân Cương, nơi lưu giữ những hiện vật và tư liệu quý về cây chè, về lịch sử nghề trồng chè trên vùng đất nửa đồng nửa núi. Ở đó, chị Đặng Thu Hoài, hướng dẫn viên, khéo léo đưa chúng tôi trở về miền ký ức của xứ Trà qua câu thơ của cụ Nguyễn Du: “Khi hương sớm, lúc trà trưa/ Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàm”.
Từ xưa uống trà đã là một thú vui tao nhã có chiều sâu văn hóa. Và nghề trồng, chế biến chè đã là một nghệ thuật trong dân gian. Nhắc đến chè Thái Nguyên là phải kể đến câu chuyện của cụ Vũ Văn Hiệt, người mở đầu cho câu chuyện lịch sử về vùng trà Tân Cương. Câu chuyện ấy được gieo vào lòng du khách ngay bên ấm trà, và neo lại trong lòng người bởi hương vị tinh túy đất trời đọng lại từ đôi bàn tay tảo tần của người nông dân trồng chè.
Hình ảnh cụ Vũ Văn Hiệt dẫn đầu đoàn người từ vùng đất Tân Cương vượt núi Tam Đảo sang vùng chè Phú Thọ mua hạt giống về trồng luôn được nhắc nhớ như một biểu tượng của ý chí và khát vọng. Hành trình cơm nắm, áo tơi vượt dốc năm nào không chỉ mang về những hạt chè quý gieo vào đất, mà còn gieo vào lòng người Thái Nguyên niềm hy vọng đổi thay, ấm no, đủ đầy áo cơm.
Bấy giờ năm 1925, những mầm sống mọc lên từ đất, vươn lên hứng nắng trời và hiến dâng cho chủ nhân sự tinh túy hội tụ lại từ vũ trụ bao la. Sau 10 năm tần tảo, chai sạn, chè xứ Thái dần được định dạng bằng nhiều loại sản phẩm chè khô khác nhau, nhưng trội hơn là sản phẩm chè Cánh Hạc.
Năm 1935, cụ Hiệt cùng người xứ trà Thái Nguyên mang sản phẩm chè của mình đến Hội chợ thương mại Hà Nội, tại khu đấu xảo để tham dự cuộc thi chè và trà. Điều thú vị là chè của xứ Thái Nguyên khi được tra nước đun sôi thì từng búp khô giòn chợt thành mềm mại, nở bung như cánh chim hạc dang rộng bay lên mang theo hương thơm thanh khiết của một miền đất trung du miền núi, khi thẩm trà thấy tiền chát, hậu ngọt.
Chính sự khác biệt đã tạo nên chất lượng vượt trội so với chè nhiều vùng khác, nên chè Cánh Hạc đã chinh phục tuyệt đối các thành viên Ban tổ chức cuộc thi bằng giải Nhất.
Kể từ đó cụm danh từ “Đệ nhất danh trà Thái Nguyên” lan tỏa, vang xa khắp miền xuôi ngược. Con cháu các vùng chè tự hào gìn giữ, trao truyền kỹ năng, bí quyết làm ra chè Cánh Hạc, sau này gọi đơn giản hơn là chè một tôm, hai lá song vẫn giữ được hương, vị đặc biệt như chè Cánh Hạc xưa.
![]() |
| Sáng sớm trên vùng chè Tân Cương. |
Nhưng để cây chè Thái Nguyên có thương hiệu mạnh như hiện nay là cả một hành trình dài các cấp, ngành của tỉnh và người dân trồng chè nỗ lực xây dựng thương hiệu. Điểm nhấn phải kể đến các hoạt động được tổ chức tại festival trà năm 2011, 2013, 2015, Qua đó, danh thơm chè Thái Nguyên lan tỏa đến nhiều nước ở các châu lục trên thế giới.
Trăm năm trôi qua dòng đời, nhưng câu chuyện về những nông dân đầu tiên đặt hạt giống xuống vùng đất Thái Nguyên còn tươi mới như từng thước phim sống động. Bởi lẽ ấy câu chuyện xứ Trà, một nét đẹp văn hóa định hình từ lòng người được trao truyền qua các thế hệ, trở thành niềm tự hào ăn sâu vào máu thịt cư dân vùng chè Thái Nguyên.
Người xưa có câu: “Trà dĩ tình vi thượng, ẩm dĩ đức vi đầu”. Nghĩa rằng trà quý nhất ở tình người, thưởng trà cao nhất ở đạo đức và phẩm hạnh. Đó là tinh thần của đạo trà phương Đông được gói gọn trong 4 chữ: Hòa, Kính, Thanh, Tịnh với ý nghĩa lấy trà để tu tâm, kết bạn, giữ nghĩa. Bởi vậy các bậc cao niên vùng chè thường luận đàm: Chè Thái Nguyên không mọc từ đất, mà mọc từ lòng người.
Ngồi thẩm trà, mạn đàm mới thấy sự thâm thúy, sâu sắc của các bậc tiền nhân. Bởi từ những hạt chè giống đi trên lưng người về Thái Nguyên, rồi từ đó nhân lên theo năm tháng mà thành bạt ngàn các nương đồi, chè nối hàng, nối khoảng xanh ngời cả trăm năm. Dù có mưa, nắng, dông gió phũ phàng cây chè vẫn hiến dâng cho con người những thảo thơm tinh túy trời đất.
Mùa vụ vần xoay, sự lặp lại công việc hằng ngày của người dân vùng chè giống như trái đất xoay quanh mặt trời. Tôi liên tưởng như thế khi chứng kiến những búp chè non tơ trong chảo trên than hồng dần héo, khô quắt lại. Rồi khi cho chè vào ấm sứ với tiếng lanh tanh giòn tan âm thanh va đập của từng nõn chè vào thành ấm. Để khi những nõn chè ấy đón nhận nước đun sôi tra vào lại bình thản dậy hương của mùa nếp cốm mới.
Cũng khi ấy nghe như tiếng thủ thỉ câu chuyện mưa, nắng, tảo tần của người vùng chè. Thẩm thấu được một phần của hành trình dày công phu, khoa học và đầy tâm huyết từ bao đôi bàn tay nhào luyện chè trên chảo lửa. Lớp sau theo lớp trước, các thế hệ người vùng chè Thái Nguyên cùng làm ra thứ chè thơm, ngon và gìn giữ trọn vẹn cụm từ định danh “Đệ nhất danh trà”.
Chia sẻ với chúng tôi, bà Đỗ Thị Hiệp, Giám đốc HTX chè Tân Hương, xã Đại Phúc, tự hào: Năm 2000 HTX được thành lập với ý tưởng tập hợp một số hộ trồng chè trong vùng cùng sản xuất chè theo hướng an toàn. Được sự khuyến khích, hỗ trợ của các cơ quan chức năng, các thành viên HTX đã thay đổi tư duy sản xuất, quyết liệt làm ra sản phẩm chè an toàn.
Câu chuyện chỉ có thế, nhưng tôi biết đó là cả một hành trình hơn 10 năm HTX mới đạt được đích đến. Năm 2011, sản phẩm chè của HTX được cấp chứng nhận UTZ Certified, chứng chỉ quốc tế khắt khe bậc nhất. Đây là sản phẩm trà đầu tiên của Việt Nam đạt chuẩn để hội nhập và lưu thông trên thị trường quốc tế. Kể từ đây tỉnh Thái Nguyên đã có sản phẩm chè đàng hoàng bước ra sân chơi rộng lớn trên thế giới với chất lượng thực thụ.
Cả trăm năm nay Thái Nguyên đã tỏa hương “Đệ nhất danh trà”. Nhưng để “Danh chính, ngôn thuận”, các nghệ nhân vùng chè cùng dấn thân vào trào lưu xây dựng thương hiệu. Từ đó có hàng trăm sản phẩm chè được “khai sinh”, chào bán ra thị trường. Hầu hết các sản phẩm chè Thái Nguyên được bạn hàng trong nước, quốc tế đánh giá cao về chất lượng. Đến nay, trên toàn tỉnh đã có hơn 200 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao.
Tôi đã thấy chè Thái Nguyên được bày bán ở hầu khắp các tỉnh, thành trong nước. Chứng kiến du khách nước ngoài mua chè Thái Nguyên làm quà cho bạn bè, người thân ở Sân bay Quốc tế Nội Bài; Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất; Cảng hàng không Quốc tế Đà Nẵng, tôi thấy mình vui lây với nông dân xứ trà Thái Nguyên. Bà con đã bền bỉ giữ đạo của người làm trà an toàn, không chạy theo sản lượng, không vì lợi ích trước mắt mà làm ô danh thương hiệu cha ông gây dựng từ trăm năm trước.
Nhưng để có được vị thế ấy, cây chè Thái Nguyên đã trải qua không ít thăng trầm. Có giai đoạn chè làm ra không bán được, nhiều nhà phải đốn chè trồng cây ăn quả, trồng sắn, thậm chí phá chè để trồng rừng. Trò chuyện với chúng tôi, ông Lê Quang Nghìn, một nghệ nhân xứ chè Tân Cương, chia sẻ: Trong lúc bà con phá chè thì tôi vẫn kiên định giữ. Vì chè của gia đình được cha ông trồng và nuôi chúng tôi lớn thành người.
Cùng ở xã Tân Cương, ông Mai Viết Ái, xóm Gò Pháo, bùi ngùi nhớ lại một thời cây chè bị rẻ rúng, không đủ sức nuôi sống con người. Nhưng rồi như bừng tỉnh sau giấc chiêm bao, ông cho biết những năm gần đây chè được giá, bà con phấn khởi hơn; tinh thần đồng thuận dần trở thành nếp sống đẹp trong cộng đồng người trồng chè.
Giữa nông dân và các đại lý đã hình thành mối liên kết bền chặt, sản xuất theo quy trình thống nhất, bao tiêu ổn định, chất lượng kiểm soát chặt, giúp sản phẩm chè không còn trôi nổi theo giá cả bấp bênh trên thị trường.
![]() |
| Du khách trải nghiệm tại vùng chè. |
Để có cảm nhận sâu nặng hơn về chè và trà Thái Nguyên, chúng tôi cùng bỏ lại sau lưng những đồi chè hình bát úp của Tân Cương, La Bằng, Vô Tranh, Đại Phúc để ngược đường đến với các vùng chè nơi thượng nguồn dòng sông Cầu. Ở đó có khí trời mát lành cùng tiếng gió rừng từ những dải núi cao tràn xuống mang theo mây ngàn bồng bềnh.
Khung cảnh ấy lôi cuốn bao du khách lưu lại với hưng phấn chụp ảnh săn mây. Lúc mặt trời xé tan màn sương mỏng, tôi reo lên thích thú vì từng vạt chè Shan tuyết hàng trăm năm tuổi đã hiện ra ngay trước mặt. Thân mốc thếch, già nua gồng gánh bao kiếp người bắc thang để leo lên thu hái những mầm xanh phủ lớp lông tơ trắng mịn như tuyết trời Âu.
Đặt vào giữa lòng bàn tay mấy búp chè Shan tuyết, cụ Hoàng Văn Nghĩa ôn tồn: Ngày xưa đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao sinh sống ở các thôn, xóm trong vùng thường rủ nhau lên núi Phja Khao hái chè mang về đồ chín, phơi nắng, cất ống bương trên gác bếp. Nhà có khách, đồng bào lấy nắm chè cho vào chảo gang nhỏ, vần cạnh bếp thấy chè nổ tí tách cùng mùi hương thoảng nhẹ mới cho vào ấm, tra nước pha trà mời khách. Đó là trà mạn hảo đi vào ca dao: “Làm trai biết đánh tổ tôm/ Uống trà mạn hảo xem nôm Thúy Kiều”.
Xã hội phát triển, nhu cầu thưởng trà của người tiêu dùng cao hơn, phương pháp chế biến giản đơn không còn phù hợp. Hơn nữa, đồng bào có ý thức nâng cao chất lượng sản phẩm chè, vừa để đáp ứng nhu cầu thị trường, lại đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Điển hình phải kể đến tại các xã Yên Bình, Đồng Phúc đồng bào đã làm được chè sao suốt ngon nức tiếng.
Nhằm tạo dựng thương hiệu chè, nhiều gia đình tham gia hợp tác xã để cùng nhau tạo vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, sản xuất theo chuỗi giá trị, đưa sản phẩm chè Shan tuyết đạt chuẩn OCOP. Điển hình như sản phẩm chè Shan tuyết của các hợp tác xã: Tát Vạ, Thái Lạo, Hồng Hà đang từng bước chinh phục người sành chè trên cả nước bằng hương, vị độc lạ chỉ ở những vùng chè trên lưng chừng núi mới có.
Cùng Shan tuyết, Kim Hoa Trà mang sắc vàng thuần khiết được dân gian suy tôn là “Nữ hoàng của các loại trà”. Chia sẻ với chúng tôi, ông Bàn Văn Mùi, thôn Bản Mún, xã Bạch Thông cho biết: Người dân chúng tôi phát hiện được giống chè quý này trên rừng, mang về trồng thử thấy phát triển tốt, nhiều người ưa dùng nên bảo nhau nhân ra diện rộng. Kim Hoa Trà cho thu hái lá quanh năm, còn hoa thu hái từ tháng 12 âm lịch năm trước đến hết tháng Ba âm lịch năm sau.
Nhờ gần 600 gốc Kim Hoa Trà trong vườn, gia đình ông Mùi đã có cuộc sống khá giả. Nhìn vườn trà chúm chím ngậm nụ e ấp trong sương sớm, ông hể hả: Hiện “Nữ hoàng của các loại trà” mang lại cuộc sống sung túc cho hàng chục hộ trong thôn Bản Mún. Còn ông Lý Đình Văn, người cùng thôn cho biết: Trong vùng có nhiều gia đình đạt thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm nhờ Kim Hoa Trà.
Cũng ở đó, chúng tôi gặp người đàn bà tâm huyết với trà là bà Dương Khánh Ly, Giám đốc Hợp tác xã nông lâm Nghĩa Tá. Bà chia sẻ: “Nữ hoàng của các loại trà” có giá trị kinh tế cao, vì ngoài làm thức uống còn là loại dược liệu quý. Người sử dụng cảm nhận được sự sảng khoái vì loại trà này hỗ trợ thanh lọc cơ thể, giải độc gan, giảm cân, chống lão hóa.
Không bạt ngàn liền dải như các vùng chè truyền thống của Thái nguyên, “Nữ hoàng của các loài trà” mọc rải rác trên vùng đất thuộc các xã Bạch Thông, Chợ Đồn, Yên Bình, Đồng Phúc, Yên Phong, Nghĩa Tá… với tổng diện tích ước đạt khoảng 100ha.
Chưa nhiều, nhưng đủ để đồng bào tự hào về loại chè mọc trên vùng đất quê hương mình có khả năng trợ giúp người sử dụng kéo dài tuổi thọ. Bởi lẽ ấy sắc vàng tươi rói của Kim Hoa Trà làm ngày đông trở lên ấm áp hơn, đời sống của đồng bào các dân tộc miền sơn cước cũng no đủ hơn nhờ kinh tế trà mang lại.
Tháng 12, những rừng chè Shan tuyết cổ thụ đứng lặng lẽ trong sương ủ nhựa sống. Các vạt Kim Hoa Trà bắt đầu rủ nhau bung nở cánh tươi vàng báo hiệu sự no đủ. Từ các xã thuộc vùng lõi của núi rừng Việt Bắc, chúng tôi xuôi theo con đường bám dòng sông Cầu về các vùng chè nơi cửa ngõ Thủ đô Hà Nội, lòng hân hoan vì những ngày cuối cùng của một năm đầy dông bão, thiên tai đang khép lại để mở ra một năm mới tràn đầy hy vọng. Cũng khi ấy chúng tôi nhận ra tiếng lao xao của chè lên hương chuẩn bị phục vụ người tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Hương trà thơm nồng nàn mang theo cả cánh đồng nếp mới, ùa về với câu chuyện chè Thái Nguyên chinh phục bạn bè quốc tế. Những giải thưởng của Mỹ, Canada dành cho chè Hà Thái, chè Tân Cương Hoàng Bình là minh chứng rõ ràng. Không phải ngẫu nhiên tri thức trồng, chăm sóc, chế biến chè Tân Cương được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đó là thành quả của trăm năm gìn giữ, trao truyền, kết tinh thành hồn cốt của vùng trà xứ Thái. Một người bạn của tôi ở chân núi Phja Khao, vùng đất gom nguồn sinh thủy khởi tạo nên dòng chảy của sông Cầu tự hào: “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên không chỉ có Tân Cương, La Bằng, Đồng Hỷ, Vô Tranh, mà còn có Shan tuyết và “Nữ hoàng của các loài trà” ở thượng nguồn sông Cầu.
Tôi cũng tự hào kể với bạn mình: Kể từ tháng 7-2025, sự trở về của hai vùng đất Thái Nguyên và Bắc Kạn đã chắp thêm đôi cánh cho cây chè. Không chỉ mở rộng vùng nguyên liệu mà còn nâng cao giá trị thương hiệu, đưa sản phẩm vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt từ chè, các nghệ nhân đã khéo léo chế biến được khoảng 150 món ăn giới thiệu với du khách trong nước, quốc tế.
Ăn trà, uống trà, mỗi ấm trà đều mang theo một câu chuyện đầy ắp tình người từ năm châu bốn biển. Trà lặng lẽ đi vào đời sống vật chất và tinh thần của người Việt như một lẽ tự nhiên. Người Thái Nguyên chăm nom cây chè để nó xanh tốt, còn cây chè đáp lại bằng nguồn sinh kế bền bỉ và những nét đẹp văn hóa độc đáo.
Bởi chè Thái Nguyên không chỉ là một sản vật, mà còn là văn hóa, là ký ức, là hiện tại và tương lai; để rồi chè và trà Thái Nguyên có sức sống bền bỉ trong lòng người Việt và bạn bè quốc tế.




Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin