Trăm năm lộc biếc

Mây A 17:28, 05/01/2026

Những ngày cuối năm là thời điểm các xưởng chè bận rộn làm hàng Tết. Trong cái rét sâu của gió mùa Đông Bắc đang dồn dập thổi về, các vườn chè vẫn xanh tươi, trổ búp đều tăm tắp, tỏa ngát hương, như để đón chào một mùa Xuân mới tràn đầy hứa hẹn và hy vọng.

Vùng chè Tân Cương.
Vùng chè Tân Cương.

Tìm nguồn gốc nghề chè

Thái Nguyên hiện là tỉnh có diện tích chè lớn nhất cả nước, với trên dưới 100 nghìn hộ dân gắn bó với cây chè và nghề làm chè. Người làm chè Thái Nguyên luôn tự hào với danh tiếng “chè Thái Nguyên” - “đệ nhất danh trà” đã vang danh suốt cả thế kỷ.

Không chỉ tại Tân Cương mà ở bất cứ vùng chè nào của tỉnh, người dân đều kể rằng: đầu những năm 1920, những hạt giống chè trung du đầu tiên đã vươn chồi trên đất Tân Cương. Qua một thế kỷ, bằng trí tuệ, óc sáng tạo và đôi bàn tay cần cù, người làm chè Thái Nguyên đã đưa hương trà bay xa khắp thế giới, góp phần đưa chè trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia.

Tuy nhiên, theo nhiều nhà khoa học, cây chè đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Từ xa xưa, người Việt trồng chè dưới hai loại hình chính: chè vườn hộ gia đình uống lá tươi ở vùng đồng bằng sông Hồng, chè đồi ở Nghệ An; và chè rừng vùng núi, uống chè mạn, bán lên men ở khu vực Tây Bắc như Hà Giang, Lào Cai.

Cuối thế kỷ XIX, các đồn điền chè tư bản Pháp hình thành với thiết bị công nghệ hiện đại, xuất hiện hai loại chè công nghiệp là chè đen OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Thời kỳ này, chè đen chủ yếu xuất khẩu sang Tây Âu, chè xanh sang Bắc Phi. Trước năm 1945, diện tích chè cả nước đạt hơn 13 nghìn héc ta, sản lượng khoảng 6.000 tấn chè khô mỗi năm.

Sau năm 1954, Nhà nước xây dựng các nông trường quốc doanh và hợp tác xã trồng chè, sản xuất chè đen xuất khẩu sang Liên Xô – Đông Âu và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc. Trò chuyện về nguồn gốc cây chè ở Thái Nguyên, nhiều cụ già nhớ rằng trước khi cụ Đội Năm mang chè về Tân Cương, đã có những đồn điền chè rộng lớn ở Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ nhưng không duy trì được. Phải đến khi cụ Đội Năm xin giống từ Phú Thọ về trồng thì chè mới thực sự bén rễ và phát triển bền vững.

Theo Lịch sử Đảng bộ xã Tân Cương (1946-2020), đầu những năm 1920, Tân Cương còn là vùng đồi núi hoang vu, dân cư thưa thớt, cuộc sống đói nghèo. Cụ Vũ Văn Hiệt (Đội Năm, 1883-1945, quê Hưng Yên) đã mang hạt giống chè về trồng tại xóm Guộc rồi nhân rộng ra các thôn xóm.

Năm 1935, sản phẩm chè “Con Hạc” của Tân Cương giành giải Nhất tại cuộc thi Đấu Xảo Hà Nội, từ đó danh tiếng “đệ nhất danh trà” lan tỏa khắp mọi miền, mở ra tương lai cho nghề chè Thái Nguyên.

Từ no cơm, ấm áo

Chúng tôi đến thăm vườn chè cổ trăm năm tuổi ở xóm Nam Sơn. Cụ bà Nguyễn Thị Ngân, năm nay 85 tuổi, tuy ít nói nhưng khi gợi chuyện, ký ức lại chậm rãi mở ra. Sau nạn đói năm 1945, những người họ hàng còn sống mang theo đứa cháu mồ côi là cụ lên Tân Cương làm thuê cho đồn điền chè. Từ đó, cuộc đời cụ gắn bó với cây chè.

Bố mẹ chồng cụ là lớp người đầu tiên trồng chè ở đây. Khi cụ còn nhỏ, vườn chè đã cho thu hoạch nhiều năm, cây được đốn thấp để ra cành mới, tán ngày một rộng. Sau này, khi giao khoán đất, gia đình cụ nhận lại chính vườn chè cổ. Hiện nay, cả xã chỉ còn duy nhất khu chè cổ thụ từ thời cụ Đội Năm, khoảng một héc ta của ba hộ, trong đó gia đình anh Phạm Văn Nhật chăm sóc tốt nhất.

Vườn chè 100 năm tuổi tại xã Tân Cương.
Vườn chè 100 năm tuổi tại xã Tân Cương.

Anh Nhật có xưởng chè nhỏ mang tên Trang Nhật. Vợ anh, chị Trần Thị Thu Trang, là thợ chính, chuyên chế biến chè búp khô truyền thống. Nhờ vườn chè cổ, kinh tế gia đình ổn định, năm 2024 anh được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen vì thành tích sản xuất kinh doanh giỏi. Anh chia sẻ, dù nhiều hộ đã thay thế chè trung du bằng giống mới, anh vẫn không thể phá bỏ vườn chè cổ – nơi kết tinh mồ hôi, công sức và cả ký ức của nhiều thế hệ.

Với anh Nhật, vườn chè không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là giá trị tinh thần thiêng liêng, là minh chứng sống động cho lịch sử vùng chè Tân Cương. Xưởng chè của gia đình luôn giữ phương châm “làm thật chất”, đúng chuẩn chè Tân Cương truyền thống, nên giữ được khách hàng bền vững.

Ông Phạm Tiến Sỹ, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Tân Cương, nhớ lại: thời kỳ đầu, sản xuất chè còn manh mún, năng suất thấp. Khi xác định cây chè là cây kinh tế chủ lực, chính quyền đã đồng hành cùng người dân mở rộng diện tích, đổi mới quy trình chăm sóc, chế biến. Tân Cương là một trong những địa phương áp dụng kỹ thuật chế biến chè sớm, đặc biệt là sản xuất chè vụ đông. Năm 2007, chè Tân Cương được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý; đến năm 2015, sản phẩm chè của sáu xã phía Tây thành phố Thái Nguyên được công nhận chỉ dẫn địa lý “Tân Cương”.

Từ vùng đất hoang vu, cây chè đã mang lại cơm no áo ấm cho người dân, là nguồn lực để Tân Cương trở thành địa phương đi đầu trong xây dựng nông thôn mới. Nhiều thập kỷ qua, cây chè vẫn là “người bạn chung thủy” của nông dân Thái Nguyên, góp phần hình thành hàng trăm làng nghề chè truyền thống và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Đến sung túc, phồn vinh

Năm 2025, diện tích, sản lượng và giá trị sản phẩm trà Thái Nguyên tiếp tục dẫn đầu cả nước. Từ “cây xóa đói giảm nghèo”, chè nay trở thành “cây làm giàu”. Toàn tỉnh có gần 100 nghìn hộ tham gia trồng, chế biến, tiêu thụ chè; nhiều hộ thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm.

Sau hơn một thế kỷ, với thổ nhưỡng phù hợp và sự cần cù, sáng tạo của nhiều thế hệ, chè Thái Nguyên tiếp tục khẳng định danh tiếng “Đệ nhất danh trà”, giành nhiều giải thưởng quốc tế: chè Tôm Nõn Hà Thái đoạt giải Bạc năm 2016; “Đinh Vương Phẩm” Hoàng Bình đoạt giải Đặc biệt năm 2017; “Đinh Tâm Trà” La Bằng được chọn làm quà tặng APEC 2017; HTX Trà an toàn Phú Đô đoạt giải Đồng tại Úc năm 2024; HTX chè Hảo Đạt có hai sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia.

Chị Trần Thị Thu Trang (xã Tân Cương) chế biến chè búp khô truyền thống thu hái từ vườn chè 100 năm tuổi.
Chị Trần Thị Thu Trang (xã Tân Cương) chế biến chè búp khô truyền thống thu hái từ vườn chè 100 năm tuổi.

Khoa học - kỹ thuật đã mang đến những thay đổi đột phá cho nghề chè: giống chịu lạnh, công nghệ tưới, bón phân, lưới che giúp chè sinh trưởng ổn định, cho thu hoạch cả vụ đông. Những vườn chè trổ búp đúng lúc thị trường khan hiếm, tạo lợi thế riêng cho chè Thái Nguyên. Hương chè Thái ngày càng bay xa, mang lại nguồn thu lớn cho người làm chè và cho tỉnh.

Tròn một thế kỷ trước, khi cụ Vũ Văn Hiệt mang những hạt chè đầu tiên về trồng dưới chân núi Guộc, hẳn không thể hình dung Thái Nguyên sẽ trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về chè. Cây chè đã bén rễ, trở thành biểu tượng không thể tách rời của mảnh đất này, đang và sẽ tiếp tục kiến tạo “Thái Nguyên giàu đẹp muôn muôn thuở, Tân Cương cường thịnh vạn vạn niên” (*).


(*) Câu đối được Tuần phủ Thái Nguyên Nguyễn Đình Tuân tặng đình Tân Cương vào dịp thành lập xã Tân Cương và khánh thành đình năm 1922.