Trong bối cảnh đương đại, “đổi mới thơ ca” không còn là một lựa chọn mang tính cá nhân, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu trước những biến chuyển sâu rộng của đời sống xã hội, văn hóa và công nghệ.
Bàn tròn Văn chương tháng 3-2026 với chủ đề “Đổi mới trong thơ” là diễn đàn trao đổi học thuật giữa các văn nghệ sĩ tỉnh Thái Nguyên xoay quanh vấn đề này.
Cuộc thảo luận diễn ra trên tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc giữa các thế hệ người viết đã phác họa rõ nét tiến trình vận động của thơ Việt Nam trong hơn hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Đó là quá trình mở rộng quan niệm nghệ thuật, đa dạng hóa thi pháp và ngôn ngữ, đồng thời chủ động tiếp nhận và thử nghiệm các khuynh hướng hiện đại cũng như hậu hiện đại.
Thực tiễn sáng tác hiện nay cho thấy sự nở rộ của các tìm tòi, cách tân, khi nhu cầu vượt thoát khỏi những khuôn mẫu truyền thống ngày càng trở nên cấp thiết. Điều này đặt ra một yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn: làm thế nào để đạt được sự cân bằng giữa bảo tồn giá trị truyền thống và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhằm vừa gìn giữ bản sắc văn hóa, vừa gia tăng chiều sâu thẩm mỹ cho thơ ca.
Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo, người viết không chỉ cần đổi mới tư duy nghệ thuật mà còn phải kiên định với bản sắc cá nhân, chiều sâu trải nghiệm và tính chân thực của cảm xúc. Vì vậy, đổi mới thơ ca cần được nhìn nhận như một tiến trình đối thoại liên tục với truyền thống, từ đó kiến tạo những giá trị mang tính hiện đại và bền vững.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuộc trao đổi giữa nhà văn Hồ Thủy Giang, PGS.TS, nhà thơ Trần Thị Việt Trung; PGS.TS, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh và nhà thơ trẻ Phùng Thị Hương Ly về nội dung bày.
![]() |
| Nhà văn Hồ Thủy Giang. |
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa chị Trần Thị Việt Trung! Từng nhiều năm là Chi hội trưởng Chi hội Lý luận phê bình của Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên, chị có thể cho vài nhận định về sự đổi mới thơ của cả nước nói chung và Thái Nguyên nói riêng trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây?
![]() |
| PGS.TS. nhà thơ Trần Thị Việt Trung. |
PGS.TS. Trần Thị Việt Trung: Nhìn chung, thơ Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay vẫn tiếp tục đổi mới một cách khá mạnh mẽ và toàn diện (từ quan niệm về nghệ thuật thơ, đến tư duy thơ, đến thể loại, đến ngôn ngữ, đến khuynh hướng, hệ hình thơ…).
Sự thay đổi về cơ cấu đời sống, thiết chế xã hội theo cơ chế kinh tế thị trường cùng sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng… dẫn đến sự đòi hỏi đổi mới, hiện đại hóa thơ ca một cách ráo riết hơn, đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của người đọc thời “công nghệ số”.
Vì thế, bên cạnh các tác giả thơ đã “rất ổn định” về mặt phong cách cùng những sáng tác thơ đã được ghi nhận từ năm 1986 đến nay có hai lớp nhà thơ (6x, 7x và 8x, 9x) đã rất tích cực thể nghiệm sự đổi mới, sự sáng tạo đầy tính hiện đại và hậu hiện đại trong các sáng tác của mình. Lớp nhà thơ 6x, 7x (tiêu biểu như các tác giả: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương…) đã có những sáng tạo, những thể nghiệm, những cách tân trên cơ sở hiểu biết một cách sâu sắc, vận dụng một cách phù hợp các trường phái thơ hiện đại, hậu hiện đại phương Tây cùng với vốn văn hóa Việt, ngôn ngữ Việt phong phú, đã có những thành tựu đáng khẳng định, góp phần thúc đẩy thơ ca Việt tiến lên phía trước, tạo cơ hội hội nhập quốc tế.
Lớp nhà thơ 8x, 9x lại có một sự thể nghiệm đầy tính “mới lạ”, mang màu sắc “thời thượng”, đặc biệt là sự thể hiện tính dục một cách táo bạo, trần trụi (như Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và nhóm “Mở miệng”, “Ngựa trời”…). Sự cách tân, sự vận dụng, ứng dụng thi pháp hiện đại, hậu hiện đại của họ đã không đem lại những hiệu quả như mong đợi; phần lớn độc giả không ủng hộ và có những phê phán khá gay gắt về những “sáng tạo độc lạ”, không phù hợp với văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam.
Tuy nhiên, vẫn có thể nói: Thơ Việt Nam trong khoảng 20 năm qua vẫn tiếp tục đổi mới và đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận, nhưng cũng còn một số hiện tượng cần nghiêm túc xem xét đánh giá đúng mức bởi tính chất phong phú, phức tạp (thậm chí là có những biểu hiện cực đoan) trong sáng tác của một số nhà thơ trẻ “cấp tiến”.
Thơ Thái Nguyên trong khoảng 20 năm qua cũng đã mang những nét, những đặc điểm tương tự như thơ của cả nước nói chung. Bên cạnh các nhà thơ thuộc thế hệ 6x, 7x vẫn khá sung sức trong các sáng tác thơ với những đổi mới đáng ghi nhận (tiêu biểu như các sáng tác của Nguyễn Thúy Quỳnh, Võ Sa Hà, Nguyễn Kiến Thọ, Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hồng, Lưu Thị Bạch Liễu, Phan Thái…); là các nhà thơ thuộc thế hệ 8x, 9x (tiêu biểu là các cây bút trẻ Hoàn Chiến Thăng, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy, Ngô Thúy Hà, Phùng Thị Hương Ly, Hà Hồng Hạnh, Hà Sương Thu…) có những sáng tác mang màu sắc hiện đại và hậu hiện đại, tạo nên những tác phẩm thơ có tính sáng tạo, mới mẻ thậm chí “khác lạ” nhưng không có những biểu hiện “cực đoan”. Điều này cho thấy thơ Thái Nguyên đang tiếp tục đổi mới sáng tạo và luôn đúng hướngvà được đông đảo bạn đọc yêu quý, ghi nhận.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin anh Nguyễn Đức Hạnh nói sâu hơn một chút về chuyện thế giới đã từng đổi mới thơ như thế nào. Có thể ví dụ về thơ siêu thực. Năm 1924, nhà thơ André Breton (Pháp) cùng các cộng sự của ông đã khai sinh ra chủ nghĩa siêu thực.
Không thể phủ nhận, lối viết siêu thực đã từng “nở hoa” ở nước Pháp và một số nước châu Âu, có thể nói thêm là nó cũng đã có sự thành công nhất định với các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Hoàng Cầm và một vài nhà thơ Việt Nam sau này. Bước sang thế kỉ XXI, tôi thấy khá nhiều nhà thơ ở ta có ý định đổi mới theo khuynh hướng siêu thực, nhưng người thành công rất ít mà hình như nó chỉ góp phần vào việc làm cho độc giả quay lưng lại với thơ. Có nguyên nhân gì không, thưa nhà lý luận?
![]() |
| PGS.TS. nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh. |
PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh: Thơ siêu thực được học tập, vận dụng khá thành công ở Việt Nam với một số nhà thơ thuộc phong trào thơ Mới ( 1932-1945) như Hàn Mặc Tử, Bích Khê và sau năm 1945 là Hoàng Cầm. Tất nhiên, với các tên tuổi ấy, bên cạnh một số sáng tác theo khuynh hướng siêu thực vẫn còn có những thi phẩm đi theo các khuynh hướng sáng tác khác.
Vào cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, một số nhà thơ Việt Nam cũng tìm đến thơ siêu thực (trong sự kết hợp với thơ tượng trưng, thơ Hậu hiện đại) nhưng chưa thật sự thành công. Có phải sáng tác theo khuynh hướng siêu thực chỉ góp phần làm độc giả quay lưng lại với thơ? Tôi nghĩ không hẳn như thế. Đổi mới là xu thế tất yếu, là nhu cầu tự thân mang tính sống còn của thơ. Lặp lại người khác hay lặp lại chính mình sẽ là "cái chết" của thơ nói riêng, của nghệ thuật nói chung.
Trong xu thế đổi mới ấy, thơ tìm đến khuynh hướng siêu thực hoặc các khuynh hướng cách tân của chủ nghĩa hiện đại hay hậu hiện đại là điều tất yếu. Nhưng tại sao các nhà thơ Việt Nam đang nỗ lực cách tân ấy chưa thành công như mong muốn? Bởi chưa xuất hiện những tài năng đủ lớn. Động cơ tốt đẹp không thay thế được cho tài năng.
Trong quá trình đi tới đỉnh cao thành công sẽ có bao nhiêu thất bại nằm lại dọc hành trình. Đó cũng là điều bình thường. Còn vì sao người đọc lại quay lưng thậm chí phỉ báng những bài thơ cách tân ấy? Không trách người đọc được. Họ không hiểu được thì sẽ không say mê được những vần thơ cách tân ấy. Có sự “ lệch pha” giữa nhà thơ và bạn đọc về hệ hình nghệ thuật, về tiêu chí thẩm mĩ...
Nhà thơ và bạn đọc không gặp nhau ở “Tầm đón đợi”. Nói một cách đơn giản là: nhà thơ đang tấu lên một bản nhạc giao hưởng mà người nghe chưa hề biết gì về loại hình âm nhạc này. Họ sẽ thấy tiếng nhị, hát chầu văn hay hơn bản Xonat ánh trăng của Betthoven...
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Các nhà lý luận thường quy thơ thành hai loại: thơ dễ hiểu và thơ khó hiểu. Cho dù thơ khó hiểu có mặt mạnh, có người cho rằng nó còn ưu việt hơn cả thơ dễ hiểu. Tuy nhiên, tôi nghĩ, ở Việt Nam, bạn đọc thường thích thơ dễ hiểu hơn.
Nhưng bài thơ dễ hiểu, dễ nhớ, lại được viết theo lối truyền thống (có sự đổi mới), thường được bạn đọc mến mộ và đón nhận. Người Việt thích Nguyễn Bính hơn Chế Lan Viên, thậm chí những nhà thơ lớn của thế giới như Tagore (ấn Độ), Walt Whitman (Mỹ) cũng không được nhiều bạn đọc Việt Nam đón đọc. Anh có suy nghĩ gì về điều này?
PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh: Thơ dễ hiểu và thơ khó hiểu, có lẽ là cách nói đơn giản hoá cho thơ truyền thống và thơ cách tân theo khuynh hướng hiện đại và hậu hiện đại. Có ý kiến cho rằng thơ khó hiểu có mặt mạnh của nó. Nhưng trong thực tế, hình như đa số bạn đọc lại thích thơ dễ hiểu hơn (như trong câu hỏi đã thông tin, bạn đọc thích Nguyễn Bính hơn Chế Lan Viên). Vì sao lại như thế? Tôi nghĩ câu trả lời đầu tiên là ở đội ngũ tác giả chiếm số đông hiện nay là tác giả không chuyên.
Mục đích sáng tác đầu tiên của họ là giải trí, là giãi bày tình cảm, là dùng thơ làm “cầu nối” kết bạn muôn phương. Hàng nghìn tập thơ xuất bản hằng năm trên toàn quốc thuộc phạm vi này. Với đội ngũ tác giả và mục đích sáng tác như thế, thơ dễ hiểu được tôn vinh là điều tất yếu. Nếu đọc thơ khó hiểu trong sinh hoạt của một câu lạc bộ thơ thì ai nghe, ai hiểu?
Câu trả lời thứ hai thuộc đội ngũ các nhà thơ chuyên nghiệp. Thế nào là nhà thơ chuyên nghiệp? Có phải nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là nhà thơ chuyên nghiệp không? Rất khó trả lời trọn vẹn câu hỏi này. Tôi chỉ nghĩ ai dành gần như trọn vẹn cuộc đời mình cho sáng tác thơ và đã có thành tựu được ghi nhận thì tạm gọi là nhà thơ chuyên nghiệp.
Với số ít tác giả này, thơ dễ hiểu tức thơ truyền thống vẫn là áp đảo. Họ không đứng yên. Họ sáng tác thơ truyền thống có đổi mới ở bút pháp nghệ thuật, ở thể loại, câu chữ và thủ pháp nghệ thuật. Nhưng sự đổi mới ấy vẫn nằm ở “thịt da” bên ngoài.
Một số ít nhà thơ thực hiện đổi mới quyết liệt - đổi mới trong “xương cốt” theo các phương pháp sáng tác học tập từ phương Tây: đổi mới về tư duy nghệ thuật, về quan niệm Mĩ học... Sự xuất hiện có phần lẻ loi và đôi khi “dị biệt” ấy bị thờ ơ, đôi khi bị phỉ báng ấy là điều tất yếu và bình thường.
Tập thơ “Lá Cỏ” của UytMan ở Mĩ khi mới ra đời, gửi tặng 10 người thì có 9 người gửi trả lại. Thậm chí có người xé đôi tập thơ rồi mới gửi trả tác giả. Sau này, tập thơ ấy được đánh giá là kiệt tác của thơ thế giới. Cô đơn và dũng cảm thay những người tiên phong trong hành trình cách tân thơ, viết những bài thơ khó hiểu này.
Tôi vẫn tin và mong vào một ngày mai không xa, sẽ có những tập thơ bị rẻ rúng hôm nay sẽ rực sáng như tập “Lá Cỏ” kia...
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa chị Phùng Thị Hương Ly, trong bối cảnh thơ ca đương đại đang chứng kiến sự nở rộ của nhiều xu hướng và thử nghiệm mới, khi nhu cầu vượt thoát khỏi khuôn mẫu ngày càng rõ nét, chị nhìn nhận như thế nào về vai trò của những khác biệt, những phá cách trong việc mở rộng biên độ sáng tạo? Theo chị, đâu là những biểu hiện đổi mới thực sự góp phần nâng cao chất lượng thơ ca, và đâu là những biểu hiện cực đoan hoặc hình thức mà người viết trẻ cần tỉnh táo nhận diện để không đánh mất giá trị thẩm mỹ cốt lõi?
![]() |
| Nhà thơ Phùng Thị Hương Ly. |
Nhà thơ Phùng Thị Hương Ly: Trong nghệ thuật, sáng tạo và làm mới là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của con người ở mỗi thời đại. Với tôi đổi mới một cách văn minh, phù hợp với các giá trị thẩm mỹ, văn hóa và đạo đức là điều rất cần được phát huy. Đổi mới không phải là một lựa chọn, mà gần như là một nhu cầu tự thân của người viết khi đứng trước đời sống luôn vận động.
Sự đổi mới có nhiều khía cạnh từ đề tài, cách thức thể hiện, đến giọng điệu, cấu trúc và cả cách người viết nhìn nhận vấn đề. Nhưng tôi nghĩ, để có thể đổi mới một cách thực chất, người viết cần có một nền tảng đủ dày đó là vốn đọc, vốn sống và có sự kết nối, thừa hưởng với những giá trị truyền thống. Nếu không sẽ rất dễ rơi vào một trạng thái ngộ nhận về cái mới, trong khi những gì mình đang làm có thể đã từng được các thế hệ trước nghĩ và viết rồi.
Những biểu hiện đổi mới nó không nằm ở việc phá vỡ hình thức một cách quyết liệt bên ngoài, mà nằm ở sự thay đổi trong cách cảm, cách nghĩ, cách tiếp cận đến con người. Một bài thơ có thể rất giản dị về hình thức, nhưng vẫn mới nếu nó mở ra một chiều sâu nhận thức hoặc cảm xúc…
Ngược lại, những biểu hiện cực đoan hoặc hình thức thường dễ nhận ra ở sự cố tình làm khác, làm lạ một cách khiên cưỡng. Có khi là sự cắt vụn ngôn ngữ, phá vỡ cấu trúc, hoặc sử dụng những hình ảnh, liên tưởng rời rạc mà không tạo nên một chỉnh thể có ý nghĩa.
Khi đó, cái mới chỉ dừng lại ở bề mặt, không nâng đỡ được cảm xúc và tư tưởng. Người viết trẻ, theo tôi, cần một sự tỉnh táo và kiên nhẫn bởi thơ không phải là để chứng minh sự khác biệt bằng mọi giá, mà để đi đến tận cùng của sự chân thật và tinh tế.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin quay lại với PGS.TS. Trần Thị Việt Trung. Nói đổi mới thì dễ nhưng từ xưa đến nay, tiến trình đổi mới luôn là những chặng đường vô cùng gập ghềnh, gian nan. Tôi nghĩ, nhìn chung trong công cuộc đổi mới thơ, chúng ta đã có những thành tựu, nhưng không phải không có những lúc chệch choạc, sai đường.
Đã từng có những tác giả được bạn đọc mến mộ nhưng khi bước vào đổi mới (về thi pháp) thì người đọc lại dửng dưng, xa lánh. Theo chị, do những nguyên nhân nào mà dẫn đến sự đáng tiếc như vậy? Điều này, lỗi từ phía tác giả hay độc giả?
PGS.TS. Trần Thị Việt Trung: Đổi mới thơ nói riêng, đổi mới văn chương nói chung là cả một quá trình, là cả một chặng đường đầy chông gai, thử thách. Sau 40 năm vận động, phát triển trên con đường đổi mới - thơ Việt đã có những thành tựu đáng được khẳng định, đã đáp ứng được những nhu cầu đổi mới thơ và thưởng thức thơ của các nhà thơ và của công chúng, độc giả yêu thơ.
Tuy nhiên, bên cạnh những đổi mới, sáng tạo mang nhiều giá trị của thơ - bởi sự lành mạnh, đúng hướng, phù hợp với tâm hồn, với văn hóa với thực tiễn cuộc sống, với khát vọng của con người, của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, thì thơ trong quá trình đổi mới của mình cũng có những hiện tượng, những biểu hiện của sự lệch chuẩn, sai đường… dẫn đến việc xuất hiện một số tác phẩm mang đậm màu sắc "cực đoan” không phù hợp với văn hóa, với tâm hồn, với lối ứng xử đậm chất nhân văn của con người Việt Nam.
Đó là những tác phẩm thơ đã đi quá sâu vào việc khai thác nỗi buồn cá nhân, những bi kịch cá nhân, những bế tắc, những tăm tối... trong tâm hồn, trong cuộc sống của con người thời kỳ hiện đại đến mức không thể thoát ra được để hòa hợp với cuộc sống, với xã hội đương thời.
Đó là việc mô tả thể hiện tính dục một cách trần trụi, thô tục, bệnh hoạn…; Đó là những tư tưởng phủ nhận sạch trơn những giá trị tốt đẹp của xã hội, của truyền thống văn hóa, văn học… của dân tộc…; là sự "lật lại” lịch sử; là sự “giải thiêng” các nhân vật lịch sử… một cách tùy tiện, thiếu sự tôn trọng, sự biết ơn đối với các bậc tiền nhân.
Có hiện tượng này trong đời sống thi ca đương đại hôm nay, nguyên nhân chủ yếu là do sự hạn chế về mặt nhận thức, tư tưởng; là sự vận dụng một số lý thuyết, lý luận, một số phương pháp sáng tác, khuynh hướng sáng tác hiện đại và hậu hiện đại của phương Tây một cách sống sượng, một cách không phù hợp với điều kiện chính trị, xã hội, với đời sống tâm hồn, tâm linh, với truyền thống văn hóa, truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Vì thế, thơ của họ không mang “phẩm giá của thơ ca”, đi chệch đường và có sự lệch chuẩn trong quá trình đổi mới. Có lẽ chính vì lý do này mà trong Ngày Thơ Việt Nam vừa qua, Hội Nhà văn Việt Nam đã nhấn mạnh và lấy đó làm tiêu đề (Phẩm giá của thơ ca) cho cuộc tọa đàm trong ngày Hội Thơ lớn nhất, quan trọng nhất trong năm 2026 tại Quảng Ninh.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa anh Nguyễn Đức Hạnh. Tôi thấy những năm gần đây ở Việt Nam có khá nhiều nhà thơ quan tâm đến sự cách tân của văn chương hậu hiện đại nhưng không được sự đồng cảm của cộng đồng, chưa muốn nói có cả sự phỉ báng. Có nguyên nhân gì không? Trong khi văn chương hậu hiện đại ngoài những thứ có phần lệch lạc hoặc không phù hợp với văn hoá, “thổ nhưỡng” Việt Nam thì không phải không có những mặt mạnh, mặt tiến bộ trong tiến trình đổi mới. ý kiến của anh thế nào trước tình hình nói trên?
PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh: Có khá nhiều nhà thơ quan tâm đến việc cách tân thơ theo khuynh hướng hậu hiện đại nhưng chưa nhận được sự đồng cảm, thậm chí nhận sự phỉ báng của một bộ phận người đọc. Nguyên nhân là từ đâu?
Muốn sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại là nhu cầu chính đáng của một số nhà thơ. Nhưng để thực hiện được điều đó, nhà thơ ấy cũng phải đáp ứng một số yêu cầu nghệ thuật rất khó khăn sau đây:
- Thứ nhất: đọc, hiểu sâu và kĩ về chủ nghĩa hậu hiện đại. Nếu chỉ đọc qua loa, rồi phát biểu về nó theo kiểu “thầy bói xem voi” thì sẽ sa vào căn bệnh khoe chữ mà thôi.
- Thứ hai: bước khó khăn nhất, biến lí thuyết thành thực hành. Sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện như nguyên tắc “Phân mảnh”; phá bỏ Đại tự sự; lấy những dấu hiệu hình thức làm nội dung...
- Thứ ba: phải “Việt Nam hoá”, “ phong cách cá nhân hoá” những lí thuyết du nhập từ phương Tây, để trong sáng tác của nhà thơ cách tân này vừa mang bản sắc văn hoá Việt Nam vừa in đậm dấu ấn cá nhân của tác giả...
Với hành trình nhiều thử thách ấy, những tác phẩm thơ của Việt Nam đi theo khuynh hướng hậu hiện đại hoặc chưa thật sự thành công hoặc chưa chiếm lĩnh trái tim độc giả, ở thời điểm này, cũng là điều dễ hiểu. Câu trả lời thuyết phục cho khuynh hướng sáng tác này còn nằm ở chặng đường phía trước của thơ Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa chị Phùng Thị Hương Ly, từ thực tiễn sáng tác của mình, chị quan niệm như thế nào về mối quan hệ giữa thơ truyền thống và thơ cách tân, để vừa giữ được bản sắc văn hoá, vừa tạo ra những cách tân có chiều sâu, tránh rơi vào lặp lại hoặc hình thức hóa?
Nhà thơ Phùng Thị Hương Ly: Với tôi truyền thống là những gì tốt đẹp đã được hình thành, lưu giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Nó không phải là một điều gì đó cố định, bất biến mà là một dòng chảy trong đó mỗi thế hệ đều có thể tiếp nhận, làm giàu thêm và để lại những dấu ấn riêng của mình.
Còn cách tân, theo tôi không phải là sự phủ định truyền thống, mà là một hình thức đối thoại với truyền thống. Chúng ta đứng trên nền tảng ấy để nhìn xa hơn, nghĩ khác đi và góp tiếng nói của thế hệ chúng ta đang sống. Nếu không có truyền thống, cách tân dễ trở nên rỗng nhưng nếu chỉ bám vào truyền thống mà không có sự chuyển động thì thơ cũng sẽ mất đi sức sống.
Trong sáng tác của mình, tôi luôn mang theo căn cốt văn hóa của người Tày đó là một phần rất tự nhiên. Nhưng khi viết, tôi không muốn chỉ lặp lại những gì đã có mà cố gắng nhìn lại những giá trị ấy bằng cảm quan của một người trẻ thuộc thế hệ 9x. Có thể từ góc nhìn về đời sống là một chi tiết về nét phong tục, nếp nghĩ… nhưng khi đi qua trải nghiệm cá nhân và tư duy của người viết hôm nay nó sẽ có một đời sống khác.
Để có được những cách tân có chiều sâu, theo tôi điều quan trọng là người viết phải thực sự hiểu mình đang kế thừa điều gì và mình muốn đi tới đâu. Cái khó của người viết là tìm được một điểm cân bằng truyền thống không bị đóng khung và cách tân không trở thành một trò thử nghiệm rời rạc. Điều đó vẫn phụ thuộc vào tư duy vào độ chín và cả sự trung thực của người viết với chính mình.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin quay lại với nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh. Tôi nhận thấy một hiện tượng, các trang thơ trên một số tờ báo của ngày hôm nay, hình như quá thiên về thơ tự do (thường không chú trọng tới vần điệu), thơ mang màu sắc lí trí. Các bài thơ có vần điệu, đặc biệt là thơ lục bát, ít có cơ hội xuất hiện. Như vậy có nên không, thưa anh? Và nếu cứ đà này, một ngày nào đó, thể thơ lục bát truyền thống của Việt Nam có thể chỉ còn dấu ấn trong bảo tàng?
PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh: Tại sao thơ tự do chiếm số lượng áp đảo trên các trang báo, tạp chí Văn nghệ? Những bài thơ truyền thống xuất hiện ít hơn, đặc biệt là thơ lục bát?
Đây là thực tế sáng tác hiện diện trên các báo và tạp chí. Nhưng cũng không khó hiểu và không đáng lo ngại: dù viết theo thể thơ nào, thơ hay được chọn và thơ dở không được chọn. Đó là nguyên tắc làm việc của các biên tập viên, các TBT các báo và tạp chí (Loại trừ lí do chọn bài đăng báo, tạp chí do thân quen, việc ấy không nằm trong phạm vi trao đổi này).
Tôi cũng không lo ngại việc thơ lục bát sẽ chỉ còn là dấu ấn nằm trong bảo tàng. Thời gian và người đọc là “quan toà” công minh, nghiêm khắc nhất. Thơ hay sẽ sống và thơ dở sẽ chết dù được tung hô nhất thời.
Thơ lục bát hay hiếm lắm. Nó đòi hỏi một chữ Duyên dành cho một vài nhà thơ thôi. Sau 1975, thơ Chế Lan Viên hay như thế nhưng không có bài lục bát nào. Số lượng người viết thơ hay (ngoài lục bát) nhiều lắm. Nhưng nhà thơ được tôn vinh nhờ lục bát chỉ đếm đầu ngón tay: Nguyễn Bính; Nguyễn Duy; Đồng Đức Bốn; Phạm Công Trứ và lẻ tẻ một số bài ở một số tác giả khác.
Tại sao lại như thế? Lục bát mang “hồn cốt” văn hoá Việt Nam, đòi hỏi nhà thơ phải có chung “điệu tâm hồn” với “Cây đàn bầu - lục bát" ấy .Tài năng đến đâu mà không có chung “điệu tâm hồn” này thì cũng sẽ khó thành công với thể thơ dễ làm khó hay, từ thơ chuyển sang vè chỉ cách nhau một sợi chỉ mà thôi.
Tôi vẫn tin dù khó khăn gấp nhiều lần khi sáng tác theo thể thơ lục bát, lục bát sẽ không bao giờ tàn lụi. Nó chờ đợi những tài năng phù hợp rồi sẽ thăng hoa. Nếu không tin, các bạn cứ chờ nhé.
Xin cảm ơn người đặt những câu hỏi thú vị này.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin trao đổi với chị Trần Thị Việt Trung một vấn đề quan trọng nữa. Theo tôi, thơ của các cây bút Thái Nguyên không phải là yếu kém. Đã từng nhận được những lời khen của một số nhà thơ lớn, có nghĩa là ít nhất, các nhà thơ Thái Nguyên cũng được xếp ngang tầm với các nhà thơ của các tỉnh lớn trong cả nước. Nhưng lại có một sự thật đáng buồn là chưa có sự đồng hành giữa họ với bạn đọc(?).
Tôi đoán là ở các tỉnh bạn cũng tương tự. Thực ra, người Việt rất yêu thơ, bằng chứng là chỉ riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có mấy chục câu lạc bộ thơ với hàng nghìn thành viên ham viết thơ và đặc biệt là yêu thơ hết lòng. Chị có cao kiến gì có thể cải thiện được tình hình nói trên.
PGS.TS. Trần Thị Việt Trung: Thơ Thái Nguyên trong những năm qua (khoảng 20 năm gần đây) đã có một sự “khởi sắc” thật sự với những sự xuất hiện của nhiều gương mặt thơ (là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên). Đặc biệt là sự ra đời của các câu lạc bộ thơ (khá đông đảo) đã thu hút hàng ngàn người viết thơ, yêu thơ trong tỉnh tham gia sinh hoạt một cách đầy hào hứng.
Trong số các nhà thơ Thái Nguyên đã có khá nhiều người có những tác phẩm thơ hay, đặc sắc và đã được nhận các giải thưởng về thơ của Trung ương và của tỉnh cùng những lời nhận xét, đánh giá cao của những nhà thơ, nhà lý luận phê bình trong cả nước (ví dụ các bài thơ, tập thơ của các tác giả: Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Kiến Thọ, Cao Thị Hồng, Nguyễn Đức Hạnh, Lưu Thị Bạch Liễu, Minh Thắng,Võ Sa Hà, Lã Thị Thông, Dương Khâu Luông, Doãn Long, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly, Hà Hồng Hạnh, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy,…).
Tuy nhiên, để có sự đồng hành tích cực hơn giữa người viết thơ và người đọc thơ thì cần phải có nhiều hoạt động giao lưu, giới thiệu, nhiều phương thức “lan tỏa” vẻ đẹp của thơ ca tới cộng đồng người đọc. Ví dụ như: ngoài việc tổ chức lễ hội thơ hằng năm của Hội Văn học nghệ thuật tại Thái Nguyên, cần tăng cường tổ chức các hoạt động khác như: giới thiệu thơ cho học sinh, sinh viên các trường phổ thông và các trường đại học (qua hoạt động ngoại khóa hoặc hoạt động chuyên đề); tổ chức nói chuyện thơ, giao lưu thơ tại các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy trên địa bàn tỉnh nhân dịp những ngày lễ, những ngày kỷ niệm lớn trong năm như ngày sinh của Bác Hồ 19/5, ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, ngày Gia đình Việt Nam 28/6…
Đặc biệt là tích cực tổ chức, giới thiệu các tác phẩm thơ mới xuất bản và tặng thơ cho bạn đọc; tổ chức các cuộc thi thơ… Từ các hoạt động này, tôi tin rằng sẽ có một sự đồng hành, một sự tương tác tích cực hơn, hiệu quả hơn giữa người sáng tác thơ và người thưởng thức thơ, yêu thơ trong tỉnh Thái Nguyên.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thông thường ai cũng hiểu, đổi mới khônglà phủ định sạch trơn cái cũ. Tuy nhiên trên thực tế, không phải nhà thơ nào cũng đi đúng đường. Hình như có một số nhà thơ vì quá vồ vập, sa đà một cách khiên cưỡng vào các lí thuyết mới, các hình thức mới (hiện đại, hậu hiện đại) mà bỏ quên nhưng gì tốt đẹp, mang tính cổ điển của truyền thống, đôi khi đánh mất chính mình.
“Thơ là tiếng nói của trái tim”- một “định nghĩa” có vẻ như rất cũ nhưng theo tôi đó chính là bản chất của thơ không gì có thể thay đổi được. Liệu có phải thơ hiện nay đang xa rời trái tim, đang bị lí trí hoá nên nó mất chỗ đứng trong lòng bạn đọc?
PGS.TS. Trần Thị Việt Trung: Đúng như vậy, dù có đổi mới, có cách tân, có hiện đại, có “tân kỳ” tới đâu đi chăng nữa thì thơ vẫn phải là “tiếng nói của trái tim” chứ không phải là sản phẩm thuần túy của trí tuệ. Sự xúc động sâu sắc, chân thành; sự nhạy cảm với những buồn vui; trước những nỗi khổ đau, bất hạnh hay sung sướng, hạnh phúc của con người; sự căm hận, sự xót xa trước những tội ác, những bất công đối với con người… chính là những nguyên nhân, tác động tạo nên những xúc cảm mãnh liệt trong trái tim, trong tâm hồn của nhà thơ. Từ đó họ đã viết nên những câu thơ, những tác phẩm thơ mang đậm chất nhân văn, làm xúc động lòng người.
Vì thế, dù có vận dụng bất cứ một thứ lý luận, lý thuyết mới lạ, hiện đại đến đâu; dù có ứng dụng một hình thức thơ ca “tân kỳ”, lạ lẫm đến đâu đi chăng nữa thì thơ vẫn phải chinh phục được trái tim người đọc bởi vẻ đẹp của tình cảm, vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của văn hóa, của tư tưởng nghệ thuật… trong thơ. Và đó chính là “phẩm giá của thơ ca”.
Tuy nhiên trong quá trình đổi mới thơ cũng đã xuất hiện một số sáng tác có dấu hiệu “lạm dụng kĩ thuật” về hình thức thơ, ứng dụng một số lý thuyết, lý luận; một số quan niệm mới, lạ mang màu sắc hiện đại, hậu hiện đại về thơ của phương Tây (một cách không đầy đủ) nên đã tạo ra một số sản phẩm thơ không mang “phẩm giá” tốt đẹp, cao cả của thơ ca, xa rời (hoặc phủ nhận) những giá trị cơ bản, truyền thống của thơ ca Việt.
Những tác phẩm thơ đó - có thể ban đầu gây sự tò mò, hào hứng cho một số độc giả “sùng bái” cái mới (cho dù cái mới cực đoan, mang màu sắc tiêu cực…), nhưng sau đó những sản phẩm thơ ấy đã vấp phải sự phản ứng, sự phê phán của đông đảo độc giả yêu thơ, có khát vọng đổi mới thơ một cách lành mạnh, đúng hướng, đúng với bản chất của thơ ca.
Nhưng những hiện tượng thơ ca đổi mới một cách cực đoan này không phải là dòng “chủ lưu” của thơ ca dân tộc, nó chỉ là những nhánh, những hiện tượng trong đời sống thi ca Việt Nam đương đại mà thôi. Thơ Việt vẫn luôn mang vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ; vẫn giữ vững được “phẩm giá thơ ca” của mình trong suốt quá trình Đổi mới 40 năm qua.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa chị Phùng Thị Hương Ly, trong bối cảnh AI đang tham gia ngày càng sâu vào sáng tác, theo chị, người viết trẻ đang đối diện với những thách thức cốt lõi nào, và đâu là yếu tố giúp họ giữ được bản sắc sáng tạo cũng như “phẩm giá” của thơ ca?
Nhà thơ Phùng Thị Hương Ly: Chúng ta đang thấy AI phát triển rất nhanh, mang lại nhiều tiện ích cho đời sống, trong đó có cả lĩnh vực sáng tác. Nó có thể giúp chúng ta xử lý ngôn ngữ nhanh hơn, gợi ý cấu trúc, thậm chí tạo ra những văn bản khá hoàn chỉnh. Nhưng tôi nghĩ vẫn có một khoảng cách rất lớn giữa một văn bản và một bài thơ thực sự, vì thơ là đỉnh cao của ngôn từ, là sự chắt lọc của ý nghĩ, con chữ và cảm xúc con người, thật khó để AI bắt chước được, nếu có bắt chước thì nó rất ngô nghê.
Có thể thấy trong những câu chữ trau chuốt mà AI tạo ra, vẫn là một sự thiếu vắng đó là trải nghiệm sống, là những va đập cá nhân, những dấu ấn riêng có trong phong cách, cá tính và tư duy của người sáng tạo.
Thách thức lớn nhất với người viết trẻ hôm nay có lẽ không phải là AI sẽ thay thế người viết mà là việc họ có đánh mất mình trong sự tiện lợi ấy hay không. Khi quá dễ dàng có được một bài thơ (có vẻ hoàn chỉnh và trau chuốt) người ta có thể bỏ qua quá trình tự đào sâu, tự nghi ngờ, tự tìm kiếm mà đó lại chính là phần quan trọng nhất của sáng tạo.
Tôi nghĩ, nếu lạm dụng AI để làm thơ người viết là đang tự công nhận sự lười biếng, kém cỏi và sự thiếu trung thực với bạn đọc, tự đánh lừa cảm xúc của chính mình. Nhiều khi viết thơ không phải để có một bài thơ hay, mà là để chúng ta được trải lòng, bày biện nỗi lòng trên từng câu chữ.
Để giữ được bản sắc sáng tạo và phẩm giá của thơ ca, theo tôi người viết cần giữ lại cho mình bản sắc mà chẳng có công nghệ nào hay yếu tố nào khác có thể can thiệp ấy là sự thăng hoa sáng tạo, sự rung động, trải nghiệm cá nhân và tiếng nói riêng, cũng như độ chân thật của người viết ẩn sâu trong mỗi câu chữ.
Nhà văn Hồ Thủy Giang: PGS-TS Trần Thị Việt Trung là nhà nghiên cứu, phê bình đồng thời là người sáng tác thơ lâu năm,chị có đánh giá gì về đội ngũ thơ Thái Nguyên, quá khứ, hiện tại và tương lai?
PGS.TS. Trần Thị Việt Trung: Thơ Thái Nguyên vốn có truyền thống từ những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ… với các thế hệ nhà thơ tiếp nối nhau, góp phần tạo nên một vẻ đẹp văn chương của một vùng đất giàu bản sắc dân tộc và giàu ý nghĩa lịch sử, lại là trung tâm văn hóa nghệ thuật của cả vùng Đông Bắc của Tổ quốc.
Thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay, thơ Thái Nguyên đã có một sự phát triển và trưởng thành khá mau lẹ - với các thế hệ nhà thơ ngày càng thêm đông đảo tích cực sáng tạo, sáng tác, tạo nên một “diện mạo thơ” khá sinh động, vừa mang nét chung của vùng trung du và miền núi, vừa mang nét riêng của quê hương Thái Nguyên giàu bản sắc, văn minh và hiện đại.
![]() |
| Ngày thơ Việt Nam tại Thái Nguyên. |
Trong thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, thơ Thái Nguyên liên tục được bổ sung các cây bút mới, trẻ trung, đầy sức sáng tạo bên cạnh thế hệ các nhà thơ đã “thành danh” trước năm 2000. Sau khi sáp nhập tỉnh (Thái Nguyên - Bắc Kạn), đội ngũ các nhà thơ Thái Nguyên đã được tăng cường về số lượng các nhà thơ và được tăng thêm một nét bản sắc (đậm chất dân tộc và miền núi) từ các cây bút thơ Bắc Kạn.
Vì thế, đội ngũ các nhà thơ Thái Nguyên càng trở nên đông đảo hơn, đa dạng về phong cách, phong phú về nội dung và hình thức trong sáng tác thơ ca. Có nhiều nhà thơ trẻ (thế hệ 8x-9x thậm chí thế hệ sau năm 2000) có tài năng, có cá tính và giàu sức sáng tạo đã và đang tích cực sáng tác, tích cực vươn mình để có thể hòa nhập sâu hơn và đời sống thơ ca của cả nước. Chúng tôi tin vào thế hệ các nhà thơ trẻ tràn đầy tâm huyết và khát vọng này của Thái Nguyên trong hiện tại và tương lai.
Văn nghệ Thái Nguyên xin cảm ơn cuộc trao đổi thú vị của các văn nghệ sĩ Thái Nguyên về chủ đề Đổi mới trong thơ.












Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin