Khúc tráng ca đất mẹ của Minh Hằng - nhìn từ đặc điểm thể loại trường ca

Cao Thị Hồng 18:38, 01/03/2026

1. Trường ca là thể loại thi ca có quy mô lớn, kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự (kể chuyện) và trữ tình (cảm xúc), thường mang âm hưởng sử thi, ca ngợi các chủ đề lớn lao như đất nước, lịch sử, nhân dân hoặc cuộc đời con người đại diện cho cộng đồng.

Khúc tráng ca Đất Mẹ (Nxb Văn học, Hà Nội, 2025) của Minh Hằng dài 110 trang, gồm 2 phần với chủ đề Thái Nguyên yêu dấu (gồm 8 chương: Chương 1. Người Gia Bẩy; Chương 2. Hầm kèo - Nơi chúng tôi khôn lớn; Chương 3. Lời của máu; Chương 4. Khúc hát dựng xây; Chương 5. Thái Nguyên thông minh, đậm đà bản sắc; Chương 6. Miền quê đáng sống;  Chương 7. Ước vọng dấu yêu;  Chương 8. Thay cho lời kết) và Ngọc trong núi (gồm 10 chương: Chương 1. Sinh ra từ núi; Chương 2. Tổ quốc gọi; Chương 3. Đại đội Thanh niên xung phong 915; Chương 4. Tình yêu; Chương 5. Ga Lưu Xá; Chương 6. Gia Sàng; Chương 7. Giáng sinh đẫm máu;  Chương 8. Đêm phiêu diêu;  Chương 9. Dấu thời gian; Chương 10. Nụ cười trong ngôi trường mới.

Nhìn tổng thể cấu trúc trên, có thể nhận thấy tác phẩm được kiến tạo trong quỹ đạo của trường ca truyền thống. Mặc dù Khúc tráng ca Đất Mẹ được ghép bởi hai tập thơ do tác giả viết ở những thời điểm khác nhau (2018 - 2025) nhưng đây là sự ráp nối hài hòa, các phần bổ trợ nhau tạo nên một chỉnh thể.

Năng lượng chữ tỏa ánh sáng xuyên suốt trường ca, tập trung làm bừng sáng diện mạo quê hương Thái Nguyên – “Thủ đô gió ngàn” có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử với con người dù lam lũ, vất vả, gánh chịu nhiều hy sinh, đau thương bởi chiến tranh nhưng nhẫn nại, kiên cường và luôn nuôi dưỡng trong tâm hồn niềm tin yêu và khát vọng tương lai tươi sáng.

 

2. Nhà thơ Minh Hằng chân thành chia sẻ: “Khúc tráng ca đất Mẹ là tình yêu được tôi vun đắp bằng trải nghiệm cá nhân, bằng ký ức chân thực và cả những chiêm nghiệm trong suốt hành trình sống” (Tr.7).

Quả thật, bạn đọc nhận thấy, xuyên suốt trường ca, trong vai người kể chuyện, tác giả đã khéo léo dẫn dụ bạn đọc cùng mình bay bổng trí tưởng tượng khi ngược dòng thời gian trở về suy tư khi cùng miền ký ức, lúc  hân hoan, lạc quan, hy vọng cùng hiện tại.

Từ những kỷ niệm riêng tư trong gia đình đến những vấn đề chung của cộng đồng, tất cả như được thổi hồn sống dậy xôn xao; Giọng điệu kể lúc thiết tha, trầm lắng, ưu tư, khi bay bổng nhẹ nhàng, lãng mạn…tất cả  phác họa một bức tranh tổng phổ về quê hương Thái Nguyên mang đậm hơi thở thời đại lịch sử từ kháng chiến chống Pháp đến đổi mới, hội nhập hôm nay.

Chương đầu tiên mang tên: Người Gia Bẩy, bạn đọc bắt gặp một Thái Nguyên với những hình ảnh vừa quen vừa lạ: Cầu Gia Bẩy như chiếc chõng tre/ Lồng bóng dịu dàng lòng sông đắm đuối/ Đầu cầu có cây me trăm tuổi/ Nơi hò hẹn của cô gái Bến Than/ Gặp chàng trai sang từ Đồng Bẩm/ Con thuyền giăng buồm trắng/ Bẽn lẽn trôi về Ba Đa/ Ai xá xíu, ai bánh đa…/ Ai cà phê, ai phở nóng…/ Tắc, tắc, que tre gõ vào đêm vắng (Tr.14).

Lấy điểm nhấn là “Cầu Gia Bẩy” - một cây cầu đã đi vào tâm thức văn hóa, như một biểu tượng kiên trinh của người Thái Nguyên qua bao năm tháng thăng trầm, Minh Hằng đã giúp bạn đọc kết nối ký ức của một thời tuổi trẻ. Đó là những cuộc “hò hẹn”, là những món ăn bình dị, dân dã nơi quê nhà nhưng nhớ mãi một đời của mỗi con người.

Thái Nguyên lãng mạn với Hoa ngọc lan ướp đêm thánh thiện/ Lặng thầm khoe cánh trắng/ Như một mảnh trăng thầm (Tr.15). Thái Nguyên gắn với những địa danh quen thuộc: làng Um, làng Hà, La Hiên, Phú Lương, Phấn Mễ…gợi nhớ những bước hành trình mưu sinh nhọc nhằn của bao bà mẹ: Bóng mẹ lẫn vào sương sớm/ Lưng áo màu nâu sẫm/ Mồ hôi ướt gót chân…; Bàn chân bé đo quãng đường dài/ Hun hút bóng đêm (Tr.15); Thái Nguyên cũng là nơi in dấu những u uất của người cha khi quê hương bị kẻ thù xâm lược: Mắt bố buồn man mác/ Ngắm chiều tàn ráng hoàng hôn/ Ngắm cây đìu hiu, người xơ xác/ Tiếng thở dài nén thật sâu (Tr.15).

Trong tâm thức của Minh Hằng đau đáu một Thái Nguyên từng khổ đau, tan nát hoang tàn trong chiến tranh khốc liệt. Thời Pháp cai trị: Lính Tây lăm lăm cây kiếm/ Nhà nhà đóng cửa… Bánh xe bò kẽo kẹt, xác người đung đưa… Bao năm qua, mồ chung còn đó… (Tr.16); Thời Mỹ leo thang ra miền Bắc: Bom nổ tứ bề, phố nhỏ chìm trong lửa Bầu trời nóng bỏng, ngập mùi thuốc súng/ Bom thả trúng hầm, trúng nhà, trúng cầu Gia Bẩy… Xác người vắt cành me/ Tiếng la thét, tiếng gào khản đặc/ Con tìm cha, vợ tìm chồng/ Mâm cơm vỡ tung/ Máu tươi đẫm miệng hầm/ Mái ấm không còn dấu vết (Tr.18).

    Đặt trong dòng chảy thăng trầm của lịch sử dân tộc, chúng ta thấy cũng như nhiều miền quê khác trên nước Việt, từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, người Thái Nguyên luôn phải đương đầu với muôn vàn thách thức, gánh chịu nhiều mất mát, đau thương… 

Tiếp nhận Khúc tráng ca đất Mẹ, bạn đọc cảm nhận rõ, Minh Hằng đã có chủ ý khi khắc đậm sự tàn khốc của chiến tranh. Thái Nguyên –mảnh đất nhỏ bé khiêm nhường, hiền hòa, thân thiện là vậy mà không được sống bình an,  phải hứng chịu rất nhiều bom đạn của kẻ thù: Ga tàu, nhà máy, công trường, bệnh viện/ Bom, đạn… găm khắp nơi nơi/ Vành tang buốt tim người (Tr.30).

Chiến tranh với bản chất tàn độc, nó có sức hủy diệt khôn lường, tàn phá cả về vật chất và tinh thần.  Ký ức chiến tranh và những tổn thương (đặc biệt là tổn thương tinh thần) do chiến tranh gây nên là vết thương lòng khó có thể lành trong tâm thức người Thái Nguyên. Máu ứa ngày xưa đau đến trăm năm. Này con, này cháu, Mảnh đất ta qua, cái tên ta gặp Có nhớ bao người đã hóa mây xanh? Có nhớ gia đình nào thành số không? (Tr.28). Nhiều gia đình không ai sống sót/ Xương thịt tan lẫn đất đen/ Nấm mộ khổng lồ và tấm bia dằng dặc hàng tên/ Đau quặn tim người đang sống (Tr.85). 

Không phải ngẫu nhiên ở phần 2 (Ngọc trong núi) của trường ca tác giả đã đặc biệt dành 10 chương với tình cảm trân trọng, xúc động thiêng liêng để tưởng nhớ về 60 chàng trai cô gái trẻ trung của Đại đội Thanh niên xung phong 915, Đội 91 Thanh niên xung phong Bắc Thái và cùng hy sinh lúc 19 giờ 55 phút đêm Giáng sinh 24 tháng 12 năm 1972. Đó là một đêm định mệnh: Tiếng nổ rung trời, vỡ tan mặt đất/ Sập hầm rồi đá thít hai bên/ Ôi, đêm tối bịt bùng trùm kín/ Cả bầu trời một khối đặc đen/ Tiếng kêu khóc nghẹn trong đất đá/ Pá ơi, mế ơi, cứu con!!!/ Hoảng loạn tìm nhau, ôm nhau thật chặt/ Mong phép màu về từ cao xanh/ Lửa cháy rực, những ngôi nhà đổ sập/ Bao ước mơ phút chốc tan tành (Tr.88).

Trong số họ, có người chưa biết đến hương vị tình yêu, bao mơ ước, khát vọng cháy bỏng của tuổi thanh xuân đang ôm ấp trong tim chưa có cơ hội để thực hiện. Họ là những chàng trai cô gái ưu tú của bản của làng, niềm yêu, chỗ dựa, niềm tự hào của gia đình và dòng tộc.

Minh Hằng đã chia sẻ cùng bạn đọc nỗi xót xa, tiếc nuối vì sự ra đi quá sớm của những người trẻ tuổi - Đó là sự chia sẻ chân thành và sâu sắc của tác giả trước sự mất mát quá lớn lao của Thái Nguyên nói riêng và đất nước nói chung. Giá như không có chiến tranh, nếu những con người tâm huyết, tài năng đó  còn sống, “thì bàn tay ấy, khối óc ấy sẽ làm xanh hơn núi rừng” quê hương, “làm vui hơn con tim người thân. Và dưới chân tôi, bậc cầu thang sẽ chắc hơn, trên đầu tôi mái nhà sàn sẽ dày hơn. Tôi tin là như vậy” (Tr.59).

Sự sâu sắc và tinh tế của Minh Hằng là chị đã không chỉ thuần túy kể chuyện mà từ trong âm vang câu chữ chúng ta nhận ra tiếng khóc nghẹn ngào xúc động và sự thành kính tri ân của chị với những người đã khuất. Chiến tranh là bạo tàn, lạnh lùng, vô cảm… tên lính phi công nào đêm đó bấm nút thả loạt bom trên bầu trời Thái Nguyên đâu có thể thấu cho chỉ sau có vài giây hắn đã gieo cả một trời tội ác mà không có lời thỉnh cầu Chúa nào có thể rửa được tội.

Tiếp nhận trường ca của Minh Hằng, bạn đọc có quyền suy tư, “đồng sáng tạo” về nhiều thông điệp khác vang lên: Cầu mong hòa bình vững bền cho thế giới, cầu mong con người được sống hạnh phúc, vui vẻ, yêu thương nhau… không hận thù và căm ghét nhau.

Nghe trong âm hưởng của lời ca có đớn đau nhưng không hề bi lụy, với hình tượng Ngọc trong núi, Minh Hằng đã bất tử hóa hình ảnh những người con kiên cường, anh dũng của mảnh đất Thái Nguyên đã ngã xuống trong chiến tranh vệ quốc - đó là một khối tượng đài vĩnh hằng được chạm khắc bằng ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, mãi vang lên khúc ca bi tráng, mang ý chí kiên định, quyết tâm: quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh! 

Đúng như câu thơ Tố Hữu viết: “Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu! Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều/ Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng/ Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng…” (Tố Hữu - Chào xuân 67), người Thái Nguyên cũng đã âm thầm, lặng lẽ hành trình cùng đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ với một tinh thần bền bỉ, can trường.

Trong khổ đau, ý chí nghị lực, tinh thần đoàn kết và những khát vọng của người Thái Nguyên bừng sáng mãnh liệt. Trong suốt chiều dài trường ca, với giọng điệu khi thiết tha, da diết, khi hào sảng, xúc động trào dâng… Minh Hằng đã tái hiện sinh động diện mạo tinh thần của người Thái Nguyên ở nhiều tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp trong những năm tháng chiến tranh và hậu chiến tranh đối diện với muôn vàn cơ cực, gian lao.

Trong chiến tranh, trẻ em lớn lên dưới hầm kèo, bất chấp mưa bom bão đạn: Lớp học bên bụi tre ngà, chân ghế nối đường hào chữ chi/ Cô giáo gót nhuốm bùn, cầm tay tôi ram ráp/ “O tròn như quả trứng gà”/ Nét chữ đầu tiên bên miệng hầm trú ẩn. (Tr.25).

Song đời sống càng vất vả, khó khăn, tình đồng bào càng mở rộng vòng tay, sẻ chia nhân ái, yêu thương. Người thành phố sơ tán về miền quê với bao bỡ ngỡ: Người nhà quê dang tay đón người thành phố/ Chia củ sắn lùi, bát nước chè tươi/ Dạy đan rổ đan sàng lóng mốt lóng hai/ Dạy cuốc đất gieo ngô, đánh luống trồng khoai/ Dạy chuốt rạ lợp nhà, nhào bùn trát vách (Tr.24).

Buộc phải rời xa quê hương, xa mái nhà mình qua bao năm bởi chiến tranh, người Thái Nguyên bên cạnh bao nhiêu lo âu, bao nhiêu trăn trở, lo cho hiện tại làm sao có cái ăn, cái mặc để tồn sinh còn lo cho cả những giá trị văn hóa có tiếp nối dòng chảy trong đời sống mai sau: Mộ ông bà cỏ chưa kịp lên xanh/ Chiếc nôi đan chưa xong/ Con diều đang phết dở/ Câu hát sổ tay chép ngang chừng/ Liệu có còn không cho người về chắp nối? (Tr.26).

Quả thật như dân gian đã đúc kết: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, càng trong gian khó, người Thái Nguyên càng thêm trưởng thành, vững chãi, nuôi chí bền hướng tới tương lai:  Người đàn bà áo nâu đội than xuống bến/ Người đàn ông lênh đênh thuyền nứa/ Cả đời ăn chắc mặc bền/ Chỉ mong ngày mai con cháu mình sung sướng” (Tr.27).

Đất nước hát khúc ca khải hoàn, người Thái Nguyên trở về với những giấc mơ đời thường mà do chiến tranh nên đã chưa thể thực hiện. Sau chiến tranh mặc dù trên mình nham nhở vết thương: Đạn bom ngưng rồi, Thái Nguyên xác xơ/ Hố đất hoẳm sâu, góc tường vỡ vụn (Tr.34); Cuộc sống sinh hoạt nghèo khó, thiếu thốn trăm bề,  khó khăn chồng chất: Phố xào xạc trong đêm gió lạnh/ Mái tranh xiêu theo tiếng tắc kè… Lớp học tranh tre nghe gió bốn bề/ Chúng tôi ngồi trên gạch vỡ/ Kê vở lên mẩu ghế hiếm hoi/ Lắng nghe cô giáo giảng bài (Tr.34).

Tuy vậy, phát huy nội lực, tiềm năng của mình, người Thái Nguyên với tinh thần hướng đến hòa bình, “hận thù xin để lại hôm qua”, nhanh chóng hồi sinh quê hương mình: Tàu lại rúc còi vào ga/ Sáng choang ô cửa nhìn thành phố/ Hương trà nồng nàn hơi thở/ Môi người thơm ngát nhụy sen (Tr.56)… Rừng cọ, đồi chè vẫn ngát hương say/ Trong mỗi ngôi nhà một niềm yêu dấu cũ (Tr.40).

Với thủ pháp tổng hợp kể - tả, liệt kê, xen lẫn bình luận, giải thích, chứng minh, tiết tấu câu thơ nhanh, hình ảnh thơ nối tiếp nhau dồn dập, trùng điệp… Minh Hằng đã đưa bạn đọc phiêu du, bay bổng trên bầu trời Thái Nguyên qua những miền quê ẩn chứa nhiều thông điệp văn hóa, lịch sử: Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Sông Công, Phổ Yên, Phú Bình…

Mỗi miền quê được tác giả phác họa với những nét riêng, độc đáo về sản vật thiên nhiên ban tặng, về trầm tích văn hóa (vật thể và phi vật thể)…tất cả tạo nên một bức tranh tổng thể đầy tiềm năng, lung linh phát sáng, vẫy gọi người Thái Nguyên chung tay đoàn kết để phát triển quê hương trên nhiều phương diện: Văn hóa, giáo dục, kinh tế, du lịch…

3. Khúc tráng ca đất Mẹ đã dẫn dắt người đọc vào một hành trình cảm xúc nhiều cung bậc, từ tự hào, suy tư, xúc động đến thôi thúc khát vọng, ước mơ… Trong trường ca, những khúc ca: Khúc hát dựng xây;Thái Nguyên thông minh, đậm đà bản sắc; Miền quê đáng sống… Ga Lưu Xá, Gia Sàng, Giáng sinh đẫm máu, Đêm phiêu diêu, Dấu thời gian… cho thấy sự quan sát đời sống hiện thực kết hợp trí tưởng tượng vừa tỉ mỉ, chi tiết vừa sắc sảo, tinh tế của tác giả, và trên tất cả, đúng như chính Minh Hằng đã xác quyết, chị đã viết về Thái Nguyên để: “Thể hiện sự biết ơn và trách nhiệm, đồng thời cũng là cách để độc giả hôm nay có thể nhận diện rõ hơn mạch nguồn truyền thống của quê hương mình” (Tr.7).

Thiết nghĩ, với Khúc tráng ca Đất mẹ, Minh Hằng đã thành công trong chủ đích sáng tạo của chị. Ấn tượng về Thái Nguyên qua Khúc tráng ca Đất Mẹ của Minh Hằng đã neo lại trong bạn đọc một mỹ cảm sâu sắc khó quên. Đất Thái Nguyên như người Thái Nguyên vậy, vừa dịu dàng, vừa rắn rỏi, vừa mộc mạc lại vừa sang trọng, tinh tế, thông minh... Phải thấu hiểu nơi mình sinh ra và lớn lên, gắn bó máu thịt với quê hương được vinh danh “Thủ đô gió ngàn” và “Đệ nhất danh trà” mới có thể viết về quê hương với một tấm chân tình say mê như vậy. 

Khúc tráng ca Đất Mẹ đã kết nối sự hy sinh của những người đã khuất với niềm hy vọng của những người còn sống, âm hưởng của thiên trường ca không chỉ nhắc nhở chúng ta tôn trọng những ký ức buồn đau mà còn mang lại sự an ủi và động lực cho thế hệ hôm nay.

Tác phẩm đã đi vào thế giới cảm xúc của người tiếp nhận cùng những nghiền ngẫm về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của quê hương Thái Nguyên và đất nước nói chung. Không phải ngẫu nhiên kết thúc Khúc tráng ca Đất Mẹ, tác giả phác họa một cảnh tượng đầy sắc màu lãng mạn, tươi sáng: Một quầng lửa thắm lên trời/  Mây bừng sắc đỏ, đất ngời dặm xanh/ Con về với núi thênh thênh/ Vịn vào vai mẹ, hóa thành niềm vui…(Tr.109).

Âm hưởng sử thi dào dạt, bay bổng khép lại trường ca, nhưng dư âm tác phẩm mở ra cho bạn đọc nhiều suy tư, mộng tưởng, hy vọng về chân trời phía trước: Thái Nguyên, “Miền quê đáng sống” -  Đó là sự hội tụ của tình yêu, niềm tự hào về văn hóa, lịch sử; Trong thời đại hôm nay, cùng đất nước vươn tới những tầm cao mới, Thái Nguyên hoàn toàn có thể vững tin để hướng về tương lai bằng sức mạnh của ký ức - bề dày bởi truyền thống lịch sử, văn hóa rất đỗi tự hào được đắp bồi qua bao thế hệ.

Thái Nguyên, Xuân 2026


Chú thích: Mọi trích dẫn trong bài viết lấy từ tác phẩm Khúc tráng ca Đất Mẹ, Nxb Văn học, Hà Nội, 2025, của tác giả Minh Hằng.