Trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại, trường ca đã và đang trở thành một hình thức thể hiện quan trọng của thơ, không chỉ bởi dung lượng lớn mà bởi khả năng tái hiện những vấn đề văn hóa - lịch sử - xã hội của một vùng đất. Trong dòng chảy này, trường ca của Phan Thức (Khúc ca mới, Hát ví bên sông) ra đời thể hiện một đóng góp đáng chú ý cho văn học địa phương Thái Nguyên và khu vực vùng Đông Bắc. Tác phẩm của Phan Thức không đặt trọng tâm vào những mạch tự sự sử thi quen thuộc, mà chọn hướng tiếp cận gần gũi hơn: ghi chép, tái tạo và lí giải không gian bản địa qua lăng kính của người trong cuộc. Đây chính là nền tảng giúp trường ca của Phan Thức định hình được bản sắc riêng trong bức tranh rộng lớn của văn học Thái Nguyên.
![]() |
Sự tái tạo không gian bản địa và lời tự sự cộng đồng
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu văn hóa, không gian bản địa không chỉ là không gian của địa lí vật chất, mà còn là hệ kí ức, những giá trị văn hóa, những truyền thống sinh hoạt và đời sống tinh thần được tích tụ qua nhiều thế hệ của các cư dân ở mỗi vùng đất, địa bàn mà họ sinh sống. Trong trường ca của Phan Thức, các địa danh như Phổ Yên, ATK Tiên Phong, sông Cầu,… trở thành những “không gian mang tính kí ức”, nơi lịch sử địa phương và lịch sử quốc gia gặp gỡ:
Đất Phổ Yên ngàn năm lịch sử
Thời Hùng Vương thuộc Vũ Định, Văn Lang
Thời nhà Hán thuộc huyện Long Biên
Trung tâm Châu Giã Năng thời Tùy, Lương đô hộ
Là An Định khi nhà Minh sáp nhập
Thời Lê Sơ trở lại: Huyện Phổ Yên
(Khúc ca mới)
Lý Thường Kiệt
Tên tuổi ông gắn với khúc sông này
Phòng tuyến sông Như Nguyệt
Đại Việt một thời lừng lẫy
Làm quan 3 triều, danh tướng hiển vinh
(Hát ví bên sông)
Kí ức cộng đồng (collective memory) bắt nguồn từ kí ức cá nhân luôn được lưu giữ và tái hiện thông qua kí ức xã hội (Maurice Halbwachs). Phan Thức đã vận dụng nguyên lí này bằng cách đưa vào thơ các giai thoại lịch sử, câu chuyện dân gian, hình ảnh của những làng nghề truyền thống, những biến cố cách mạng và cả quá trình đổi mới - công nghiệp hóa làng quê. Nhờ đó, trường ca của ông trở thành một dạng tư liệu kí ức bằng thơ, góp phần bảo tồn văn hóa địa phương.
Khúc ca mới - lời tự sự lịch sử, xã hội của một vùng đất đang chuyển mình
Trường ca Khúc ca mới gồm bảy chương, được kiến tạo như một “bản đồ thời gian” kéo dài từ thời Văn Lang đến thế kỉ XXI. Tác phẩm kết hợp giữa tự sự lịch sử và tự sự hiện đại, tạo ra sự tiếp nối xuyên suốt của dòng kí ức. Trước hết, trường ca Khúc ca mới đã thể hiện một lịch sử vùng - lịch sử quốc gia qua hình ảnh của những địa danh và con người anh hùng. Tác giả đã mở đầu bằng các mốc thời gian cổ sử, và xác lập truyền thống lâu dài của Phổ Yên. Những nhân vật lịch sử như Lý Nam Đế, Đỗ Cận, Nguyễn Cấu không chỉ được nhắc đến như danh nhân mà còn là đại diện cho bản sắc địa phương. Đây là hình ảnh của Vua Lý Nam Đế:
Vẫn còn đây chùa Hương ấp rêu phong
Thuở Lý Bí mồ côi nương nhờ cửa Phật
Đất linh thiêng ngàn năm Cổ Pháp
Nơi sinh thành dưỡng khí một nhà Vua
Hình ảnh Thượng Thư Đỗ Cận được khắc hoạ cũng gắn liền với các địa danh của quê hương, vùng đất Phổ Yên, Thái Nguyên:
“Ao Cậu”, “vườn Cô”, “đầm Mương” và bao dấu tích
Vẫn lưu truyền bóng dáng một hiền nhân
Những câu thơ “Thái thạch…”, “Xuân yến”, “Phan Trần”…
Sóng sánh hội Tao Đàn “Nhị thập bát tú”
Bao nỗi niềm gửi “Kim lăng ký”
Một tài cao, đức trọng thông tuệ nơi ông.
Tiến sĩ Nguyễn Cấu hiện lên với khí thế hiên ngang và sự hy sinh anh dũng cho quê hương:
80 tuổi hiểm nguy trận mạc
Ông hy sinh như một anh hùng
Cách miêu tả mang giọng kể giản dị nhưng giàu tự hào, thể hiện sự tôn vinh quá khứ bằng ngôn ngữ đời thường.
Trong Khúc ca mới, Phan Thức dành một phần lớn dung lượng cho ATK Tiên Phong – kí ức cách mạng, nơi gắn bó với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của đồng bào Thái Nguyên. Không gian này được khắc họa qua hình ảnh: lò rèn đỏ lửa, đường làng nuôi cán bộ, nhân dân che chở quân đội, những căn hầm bí mật,… ở đây, nhân dân vừa là chủ thể lịch sử, vừa là nền tảng của cách mạng:
ATK như ngọn lửa hồng
Thắp sáng niềm tin lòng dân yêu nước
Hội tương kế, hội cày, hội cấy
Giúp nhau và để giác ngộ lẫn nhau.
Hình ảnh Bác Hồ như ngọn đuốc soi đường cho chiến khu ATK và cổ vũ người dân vừa chống lại giặc Mĩ vừa xây dựng cuộc sống mới:
Vừa chiến đấu vừa thi đua sản xuất
Khí thế sục sôi mọi xóm, mọi làng
Mọi trái tim dâng đầy bầu nhiệt huyết
Khí thế sục sôi “Ba đảm”, “Ba sẵn sàng”
Điểm độc đáo của Khúc ca mới là việc đưa vào thơ những hình ảnh rất đương đại của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá với: khu công nghiệp Yên Bình, nhà máy Samsung, vấn đề giải phóng mặt bằng, chính quyền hai cấp, và cải cách hành chính,… với những đổi thay mới mẻ, hiện đại. Những nội dung này thể hiện tư duy mới về thơ trường ca: thơ không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn mô tả và lí giải hiện thực chuyển động của địa phương. Nhà thơ đã gửi gắm một ước vọng lớn lao:
Cùng đất nước sang trang sử mới
Sắp xếp lại giang san tiếp bước cuộc hành trình
Truyền thống ngàn năm cùng nối bước
Để Phổ Yên cùng Tổ quốc vươn mình.
Hát ví bên sông - khúc ca về văn hóa dân gian với không gian làng quê
![]() |
| Một cuốn tiểu thuyết của tác giả Phan Thức |
Nếu Khúc ca mới thiên về chiều kích lịch sử - chính trị, thì Hát ví bên sông nghiêng về chiều kích văn hóa - dân gian, tạo sự bổ sung cần thiết giữa hai tác phẩm. Trước hết, hình ảnh sông Cầu hiện lên như một chủ thể văn hoá. Tác giả xây dựng hình ảnh sông Cầu như nguồn sống của cả vùng với sông nuôi ruộng đồng, sông nuôi nghề tằm tơ, sông nuôi tuổi thơ, và sông cũng chính là nơi tác thành những câu hát ví ngọt ngào đắm say lòng người. Những dòng thơ viết về sinh cảnh sông vừa giàu chất miêu tả, vừa gợi tính biểu tượng về vòng đời:
Sông nuôi những câu ca
Khi mùa màng nhàn rỗi
Trai gái rủ nhau hát đối qua sông
Sông rời rợi ánh trăng
Sương đêm buông đùa bỡn
Làn gió về kết duyên
Điểm nổi bật nhất của trường ca là cách Phan Thức khôi phục và tái hiện bối cảnh ra đời hát ví (lao động, nhàn tản), các dạng thức hát (giao duyên, xướng - đối) và vai trò của tiếng hát trong đời sống tình cảm - xã hội của các thôn dân. Trong trường ca của ông, hát ví chính là một di sản của kí ức cộng đồng. Tác giả nhiều lần trích dẫn câu hát ví cổ, tạo nên tính liên văn bản dân gian:
Khúc nhau mới sinh tan vào lòng đất
Người nhờ đất lớn lên
Một đời người buồn vui cùng đất
Một đời người gắn với làng mạc, xóm thôn
Hát rằng:
“Đêm nay gió mát trăng thanh
Đẹp sao cuộc sống thanh bình quê ta”.
Đó là những câu hát mộc mạc, giản đơn. Sự giản đơn này chính là linh hồn của dân ca.
Những câu hát đâu cầu kì chữ nghĩa
Giản đơn như củ khoai, hạt thóc quê nhà…
Phan Thức không chỉ tái hiện hát ví, mà còn thúc đẩy tư duy bảo tồn qua ghi chép, sưu tầm, phục dựng, đưa vào giáo dục hay quảng bá văn hóa địa phương. Nhờ đó, trường ca này không chỉ có chức năng văn chương mà còn có chức năng văn hóa - xã hội.
Mỗi câu hát, một ước mơ khao khát
Gửi cho nhau ước vọng, niềm tin
Những câu hát được lưu lại trong trí nhớ
Trong mỗi tấm lòng, trong mỗi con tim
Thơ Phan Thức không thiên về biểu tượng mà thiên về lối kể gần với sử kí: câu dài, nhịp đều, giàu thông tin. Điều này giúp trường ca trở thành tư liệu văn hóa. Tính dân gian, địa phương khá đậm được thể hiện qua hệ thống hình ảnh: câu hát ví, nghề tằm tơ, ruộng bãi dâu, lò rèn, chợ quê, lễ hội, nhân vật anh hùng địa phương,… tạo ra một “tàng thư văn hóa” phong phú.
Cha mẹ hát, đời con lại hát
Nối dài thêm câu hát ví sông Cầu
Để ruộng lúa, nương dâu xanh bờ bãi
Để lòng người nối tiếp nhớ mong nhau
Thay lời kết
Tuy kết cấu còn đơn giản, thiên về kể sự tuyến tính, tính triết lí chưa nổi bật và cách sử dụng từ ngữ chưa tạo nên dấu ấn cá nhân nhưng hai tập trường ca Khúc ca mới và Hát ví bên sông của tác giả Phan Thức đã có những đóng góp quan trọng cho văn học Thái Nguyên. Tập trường ca đã thể hiện được những giá trị đáng khẳng định về văn hoá, lịch sử và xã hội, nghệ thuật. Với Khúc ca mới và Hát ví bên sông, nhiều sự kiện, nhân vật, phong tục văn hoá của vùng đất Phổ Yên đã được giới thiệu. Qua đó, giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về tiến trình lịch sử địa phương từ cổ -– trung - cận - hiện đại. Đây là những tư liệu có giá trị cho nghiên cứu vùng, miền. Qua tập trường ca, người đọc thấy được cảm hứng về tình yêu quê hương và trách nhiệm cộng đồng, tạo nền tảng cho giáo dục văn hóa địa phương và góp phần gìn giữ, phục hồi văn hóa hát ví của vùng đất sông Cầu, Thái Nguyên. Với hai tập trường ca này, Phan Thức đã mở rộng phạm vi trường ca vào đời sống hiện đại, đồng thời tăng cường tính tư liệu hóa nhưng vẫn giữ chất trữ tình. Từ đó góp phần khẳng định bản sắc địa phương trong văn học đương đại.
Hai tập trường ca của Phan Thức là một đóng góp quan trọng cho văn học Thái Nguyên và văn học địa phương Việt Nam. Với khả năng kết hợp giữa tự sự lịch sử, trữ tình dân gian và thẩm mĩ của thơ ca hiện đại, tác phẩm đã dựng lại một không gian bản địa đa tầng, lưu giữ kí ức cộng đồng, và thể hiện diễn ngôn đại diện cho tiếng nói của truyền thống văn hoá bản địa. Hai trường ca Khúc ca mới và Hát ví bên sông không chỉ là sản phẩm của cảm xúc, mà còn là kết quả của quá trình quan sát, ghi chép và suy tư nghiêm túc về vùng đất - con người - văn hóa, góp phần lưu giữ văn hóa địa phương, văn học cộng đồng và kí ức vùng miền trong bối cảnh hiện đại hóa của đời sống xã hội hiện nay.
![]() |
PHAN THỨC
Sinh ngày: 10/12/1947
Hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên
Quê quán: Hữu Bằng – Thạch Thất – Hà Nội
Nơi sinh: Cổ Thành – Chí Linh – Hải Dương
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 3, phường Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
TÁC PHẨM CHÍNH
1. Bến xưa (Tập thơ, 2004, Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên)
2. Chiều thời gian (Tập thơ, 2006, NXB Hội Nhà văn)
3. Chuyện chưa có hồi kết (Tập truyện ngắn, 2007, NXB Văn học)
4. Thời gian xanh (Tập thơ, 2008, NXB Đại học Thái Nguyên)
5. Ngày muộn (Tập truyện ngắn, 2009, NXB Văn học)
6. Nắng xanh (Tập thơ, 2010, NXB Hội Nhà văn)
7. Nỗi ân hận muộn màng (Tập truyện ngắn, 2011, NXB Văn học)
8. Đất khát (Tập thơ, 2014, NXB Hội Nhà văn)
9. Điều không thanh thản (Tập truyện ngắn, 2015, NXB Hồng Đức)
10. Lời cỏ (Tập thơ, 2016, NXB Đại học Thái Nguyên)
11. Thượng thư Đỗ Cận (Tiểu thuyết lịch sử, 2019, NXB Đại học Thái Nguyên)
12. Khúc hát đời anh (Tập thơ in chung, 2022, NXB Đại học Thái Nguyên)
13. Khoảng trời cao xanh (Tập truyện ngắn, 2022, NXB Lao động)
14. Lửa thiêng (Tiểu thuyết lịch sử, 2023, NXB Lao động)
15. Hai chiều gió (Tiểu thuyết, 2024, NXB Lao động)
16. Khúc ca mới (Trường ca, 2025, NXB Hội Nhà văn)
17. Hát ví bên sông (Trường ca, 2025, NXB Hội Nhà văn).




Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin