Nguyễn Trãi ngồi lặng bên án thư. Lê Lợi vừa giao cho ông một trách nhiệm nặng nề là chọn một người cùng ông đến hội đàm với Vương Thông để chuẩn bị cho ngày mở hội thề ở Đông Quan.
Nguyễn Trãi hiểu đây là một sự lựa chọn phải được tính toán hết sức nghiêm cẩn và kĩ lưỡng. Các ông Lê Sát, Lê Ngân là những tướng tài, lại từng sát cánh cùng Lê Lợi ngay từ buổi đầu phất cờ nghĩa, không thể nói là không có lòng trung.
Nhưng Nguyễn Trãi cũng hiểu đây là hai tướng hiếu chiến, luôn lấy việc binh đao, đầu rơi máu chảy làm niềm kiêu hãnh. Cử một trong hai tướng này đi chắc chắn sẽ hỏng việc lớn. Còn Trần Nguyên Hãn trí dũng song toàn, là người thấm thía sâu sắc kế sách Mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất*, nhưng cái khó là Hãn chưa được sự tín cẩn của Bình Định Vương. Hơn nữa, Hãn là anh em về đằng ngoại với ông, e khó tránh khỏi thị phi.
![]() |
| Minh họa: Dương Văn Chung |
Đắn đo, tính toán hồi lâu, chợt tâm trí Nguyễn Trãi như bừng sáng khi nghĩ tới một người. Phải lắm! Lưu Nhân Chú! Tuy Chú là một tướng không xuất thân từ dòng dõi vương triều, lại là con dân từ mạn sơn cước xa xôi tận gần biên ải phía Bắc nhưng bấy lâu nay cùng chinh chiến dưới cờ Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã nhận ra Chú không chỉ là một dũng tướng mà trong sâu thẳm, vị tướng trẻ ấy còn là một nhân sĩ.
Nguyễn Trãi nhớ lại hồi nghĩa quân bị giặc bao vây trên núi Chí Linh. Ngày ấy, đến mấy tháng trời mỗi nghĩa sĩ, kể cả Lê Lợi, mỗi ngày chỉ được phân phát một miếng thịt ngựa nhỏ. Ai nấy phải luồn vào rừng sâu tìm măng hoặc rau tầu bay mới tạm đủ cầm hơi qua ngày. Đó là những tháng ngày ba quân khó tránh khỏi ít nhiều sự hoang mang, rệu rã. Một lần, ngồi cùng Nguyễn Trãi trong đài chỉ huy, Lê Lợi vểnh bộ râu tua tủa, hỏi:
- Từ chiều ta không nhìn thấy tướng quân Lưu Nhân Chú đâu cả.
Nguyễn Trãi vẻ thông hiểu:
- Bẩm chúa công, giờ này, chắc Lưu tướng quân lại vào trong rừng sâu thổi sáo.
- Thổi sáo? Lúc này mà Lưu Nhân Chú còn thổi sáo được hay sao?
Biết là có diễn giải thế nào thì chúa công cũng không thấu hết sự tình, Nguyễn Trãi chắp tay:
- Bẩm chúa công, mấy hôm nay quanh quẩn ở doanh trại, thấy cũng cuồng chân, xin chúa công cùng thần quá bộ vào rừng thong dong một chút cho long thể thêm phần thư thái.
Lê Lợi vui vẻ:
- Hay lắm! Ta với ông cùng đi. Cứ ở mãi trong doanh trại quả là tù túng.
Vượt qua mấy con dốc, áo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi ướt đẫm mồ hôi.
Từ trên đỉnh dốc, Lê Lợi nghe thấy tiếng sáo văng vẳng, vội ngoảnh lại hỏi Nguyễn Trãi:
- Có phải tiếng sáo của Lưu tướng quân không?
- Dạ bẩm, đúng vậy ạ.
Lê Lợi ngẩn mặt:
- Nhưng sao nghe tiếng sáo có vẻ buồn da diết thế.
Nguyễn Trãi lắng nghe rồi nói:
- Bẩm chúa công. Đúng là tiếng sáo nghe hơi da diết, vì nó mang âm luật dân ca của người Thổ quê hương của tướng quân Lưu Nhân Chú.
Lê Lợi gật gù:
- Khanh là người thông thái, đi nhiều, hiểu rộng, khanh có thể giảng giải ý nghĩa tiếng sáo của Lưu tướng quân cho ta nghe được không?
Nguyễn Trãi cung kính:
- Dạ, thần đâu dám. Nhưng để chúa công được rõ thêm, thần xin mạo muội nói ra nhưng điều mà thần lĩnh hội từ tiếng sáo của Lưu tướng quân.
Lê Lợi vui vẻ:
- Hay lắm. Khanh nói đi.
Giọng Nguyễn Trãi hơi trầm xuống:
- Theo như thần biết thì người Thổ ở vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng vốn có tập tục hát lượn trong ngày hội. Trong những ngày hội này nam nữ thường đối đáp nhau qua lời hát. Có một lần, thần đã được dự một ngày hội như vậy. Vì thế mà hôm nay mỗi khi nghe tiếng sáo của Lưu tướng quân, thần lại như thấy văng vẳng bên tai những câu hát giao duyên rất tình tứ của những trai thanh nữ tú trong bản Thổ: “Ong bướm bay đi về đại ngàn/ Biết ngày nào hoa rơi lại nở/ Ong lại được vui xuân cùng bạn/ Như em ước với anh cùng về”.
- Hay quá! - Lê Lợi thốt lên - Nhưng ta đâu có thấy nỗi buồn trong câu hát mà khanh vừa nói.
- Bẩm, thần chưa nói hết. Những ngày hội ấy, còn có cả những câu hát đối đáp thất duyên nhau như thế này “Anh thương thật hay nói lời dỗ vía em ngon ngọt/ Miệng nói thương em, mắt anh nhìn chỗ khác/ Lên nhà chưa ráo chân đã vội quên lời”. Hoặc “Nếu không được làm vợ chồng thì thôi/ Có con rồi sẽ gả cho nhau/ Để hồn phách về trời yên phận”.
Lê Lợi khẽ nhắm mắt, vẻ suy tư:
- Khá khen thay ở chốn hang cùng ngõ hẻm mà người dân bản quê hương Lưu tướng quân vẫn có những câu hát sâu sắc đến vậy.
Nguyễn Trãi nói bằng giọng bồi hồi:
- Thần đồ rằng, hồi còn ở quê hương, người tài giỏi và thanh lịch như Lưu tướng quân chắc cũng có nhiều giăng mắc. Bởi vậy tiếng sáo mới da diết như vậy.
Lê Lợi cau mày nghĩ ngợi:
- Nhưng tiếng sáo buồn như vậy liệu lúc này có làm cho quân sĩ nản lòng không?
Nguyễn Trãi vội chắp tay:
- Theo ngu ý của thần thì tiếng sáo lúc này rất cần cho quân sĩ. Nó gợi lòng yêu quê hương và hận thù quân giặc. Nỗi nhớ nhà không những không làm cho tướng sĩ nản lòng mà càng tăng thêm tình yêu thương và chí khí quyết tâm diệt giặc thu lại quê hương, bờ cõi.
Lê Lợi lặng lẽ cùng Nguyễn Trãi bước trên thảm lá mục mềm mại, ấm áp, khẽ gật gù:
- Khanh nói đúng! Quả là nghe tiếng sáo, lòng ta cũng thấy nhớ Lam Sơn quá. Nhưng đúng là ta không hề nản chí. Phải mau mau trở về rửa mối hận này ông Trãi ạ. Ta muốn hỏi khanh câu này. Có phải tiếng sáo của Lưu tướng quân cũng là cái kế sách Mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất của khanh không?
Nguyễn Trãi chắp tay:
- Bẩm, thần cũng nghĩ vậy. Tiếng sáo, khi cất lên đúng lúc có thể làm lòng người xiêu đổ, có thể thắng cả binh đao.
Nghĩ đến đây, Nguyễn Trãi thở phảo nhẹ nhõm. Vậy là Bình Định Vương đã từng thấu hiểu và đã đặt lòng tin vào Lưu Nhân Chú. Mắt Nguyễn Trãi rực sáng. Đúng! Người cùng ta tới thành Đông Quan lần này phải là tướng quân Lưu Nhân Chú! Trong cuộc luận chiến quan trọng này, không chỉ cần tới trí dũng song toàn mà còn là người biết đem chính lòng mình mà giao đãi với lòng kẻ khác.
* * *
Chén rượu bỗng rời khỏi tay Vương Thông rơi xuống sàn nhà vỡ tan. Mặt Vương Thông biến sắc. Sơn Thọ, Mã Kì và nhiều tướng khác đang ngồi bên chiếc bàn lớn tỏ vẻ sợ hãi, nhìn Vương Thông. Sơn Thọ hoảng hốt:
- Vương Tổng binh, ông có sao không?
Vương Thông lắp bắp:
- Ta được mật báo, Xương Giang thất thủ rồi. Quân sĩ bị giết, bị bắt năm vạn! Quân Lam Sơn thu không biết bao nhiêu là khí giới, chiến mã, lương thảo.
Vương Thông ngồi lặng như kẻ mất hồn. Những giọt mồ hôi túa ra trên vầng trán rộng, gồ ghề. Sơn Thọ, Mã Kì nhìn thấy chủ soái ngồi như bất động, vội chắp tay đứng chờ. Một lúc rất lâu sau, Vương Thông mới khẽ mấp máy môi:
- Ta đã chấp thuận lời đề nghị hòa hiếu của Lê Lợi. Hôm nay cho mời hai ông đến cùng đón tiếp sứ giả của chúa Lam Sơn để bản bạc một số việc trước khi mở hội thề.
Mặt Mã Kì ỉu xìu:
- Ý Tổng binh thật thế sao?
Vương Thông mở choàng mắt, gườm gườm nhìn Sơn Thọ, Mã Kì:
- Còn sao nữa. Thế ý các ông?
Sơn Thọ nhăn mặt:
- Vậy là chủ soái quyết giảng hòa với Lam Sơn?
Vương Thông cười khẩy:
- Các ông định đánh sao? Các ông có hiểu, Lê Lợi nói cầu hòa là để giữ thể diện cho Thiên triều đó thôi. Chứ thực thì chúng ta đại bại rồi.
Sơn Thọ khẽ đập tay xuống bàn:
- Uất thật! Chẳng lẽ ta lại chịu lép một nước chư hầu như vậy?
Vương Thông ngửa mặt cười cay đắng:
- Chư hầu ư? Vậy khi nào Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú đến đây ông hãy đấu lí với họ.
Sơn Thọ lúng túng:
- Bẩm, Vương tổng binh văn võ song toàn chứ chúng tôi là hạng vũ dũng vô mưu làm sau đấu được với Nguyễn Trãi.
Vương Thông cầm chén rượu tu ừng ực, ngửa cổ cười một tràng dài, mắt ậc nước:
- Thì ta vừa nghe ông coi khinh, gọi họ là chư hầu mà.
Cả bọn không ai nói gì, ngồi rũ bên chiếc bàn sơn son thiếp vàng.
Hai ngày sau, Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú cưỡi ngựa đến trước cổng thành Đông Quan. Nguyễn Trãi đội mũ cánh chuồn. Lưu Nhân Chú không mặc võ phục mà gọn gàng trong tấm áo chàm tiến vào cổng thành.
Cánh cổng thành từ từ mở. Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú cho ngựa thong dong bước vào bên trong trước hai hàng thị vệ.
Vương Thông cùng Sơn Thọ, Mã Kì đứng đón Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú tận tiền sảnh. Thoáng thấy Vương Thông, Nguyễn Trãi chắp tay:
- Trãi tôi và Lưu tướng quân xin diện kiến Vương Tổng binh và các tướng quân.
Mọi người cùng đáp lễ. Vương Thông kính cẩn đưa hai sứ giả Đại Việt vào trong nhà.
- Mời quân sư và Lưu tướng quân an tọa.
Mã Kì, Sơn Thọ quắc mắt nhìn Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú.
Một tỳ nữ cầm be rượu kính cẩn rót ra từng cái chén ngọc màu xanh nhạt. Vương Thông nâng chén:
- Xin kính mời đại quân sư và Lưu tướng quân.
Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú nâng chén. Nguyễn Trãi ngắm nghía cái chén uống rượu rồi nói với Vương Thông:
- Đa tạ Vương Tổng binh. Tôi rất vui vì nhận ra cái chén ngọc đựng rượu này là dạ quang bôi, một vật dụng uống rượu của người Hồ đã được bàn tay của các nghệ nhân Trung Hoa cách điệu. Nhưng điều làm chúng tôi mừng hơn là trong cái chén được làm ra từ đất nước Trung Hoa này lại đựng thứ rượu làng Vân nổi tiếng của đất nước chúng tôi.
Vương Tổng binh cùng các thuộc hạ ngẩn mặt nghe những lời Nguyễn Trãi như vịt nghe sấm. Cả đời, họ chỉ được nhìn, được nghe cảnh chém giết, thiêu đốt và tiếng gươm khua, ngựa hí chốn trường nhung chứ đâu có hiểu dạ quang bôi ra sao, cho dù đó là một sản vật ở ngay trên bản quốc của họ. Nhưng dù sao, những lời tỏ rõ sự hòa hợp và thân thiện của Nguyễn Trãi đã làm cho những chén rượu trên tay mọi người cạn dần trong tiếng cười vui vẻ.
Vương Thông quay về phía Nguyễn Trãi:
- Đại quân sư là người đi nhiều, lại thông tỏ sử sách, không hiểu đã từng thấy ở đâu có cảnh kẻ thù mời rượu nhau như thế này không?
Nguyễn Trãi cười lớn:
- Xin đại nhân chớ quá lời. Trước trận tiền chúng ta là kẻ thù một mất một còn chứ trong buổi diện kiến để bàn về hòa hiếu hôm nay, chúng ta không còn là kẻ thù nữa. Cầm chén rượu này trên tay, tôi đã coi đại nhân là bạn hữu.
Vương Thông hơi sửng sốt:
- Bạn hữu?
Ánh mắt Nguyễn Trãi lấp lánh cười:
- Đúng vậy! Chúng ta là hai nước láng giềng. Láng giềng thì tốt nhất phải là bạn tốt của nhau, không bao giờ nên có ý định thôn tính lẫn nhau. Trong lịch sử, các triều đại của Đại Việt chúng tôi cũng như đất nước của Vương Tổng binh đã nhiều lần nêu cao tình hòa thuận.
Trước lúc gặp Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú, Tổng binh Vương Thông và Sơn Thọ, Mã Kì đều không nghĩ được rằng cuộc gặp gỡ với sứ giả của cái đất nước nhan nhản những chiến binh dũng mãnh mà họ đã từng đọ gươm trên chiến trường lại có thể... nhẹ nhõm đến thế.
* * *
Cuộc hội ngộ giữa Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú với Vương Thông kết thúc thì trời đã chạng vạng. Vương Thông có nhã ý mời Nguyễn Trãi nghỉ lại trong thành. Vương Thông tưởng các sứ giả của Bình Định Vương sẽ cảnh giác, chối từ lời mời thiện tâm ấy của mình, nhưng Nguyễn Trãi và Lưu Nhân Chú đã vui vẻ nhận lời.
![]() |
| Minh họa: Dương Văn Chung |
Đêm đã khuya. Vương Thông cùng Nguyễn Trãi ngồi uống rượu trên lầu. Cả hai đã ngà ngà, chợt Vương Thông dỏng tai lắng nghe rồi quay sang Nguyễn Trãi:
- Hình như có tiếng sáo đâu đây? Thành Đông Quan lâu nay chỉ thường nghe thấy tiếng cãi cọ của phường xóc đĩa, tiếng la hét của bọn bợm rượu, tiếng gươm đao của binh lính muốn thi thố võ nghệ chứ đâu có tiếng sáo thế nhỉ?
Nguyễn Trãi khẽ cười:
- Thưa Vương Tổng binh, đó là tiếng sáo của tướng quân Lưu Nhân Chú.
Vương Thông ngạc nhiên:
- Thật sao?... Nhưng sao tiếng sáo có vẻ sầu lụy, buồn ai oán.
Nguyễn Trãi gật gù:
- Đúng thế, thưa đại nhân. Lưu tướng quân có thói quen chỉ thổi sáo trong những lúc có tâm trạng buồn hoặc nhớ quê hương và người thân.
Nguyễn Trãi lặng lẽ nhấp một ngụm rượu:
- Lưu tướng quân có một người bạn gái yêu, một cô gái người Thổ cùng quê rất xinh đẹp và giỏi võ công, đã tử trận tại ải Chi Lăng. Từ đấy tiếng sáo của Lưu tướng quân càng thêm buồn thảm.
Giọng Vương Thông trầm hẳn:
- Ra vậy.
Vương Thông gõ gõ mấy ngón tay xuống mặt bàn, như nói với chính mình:
- Đã bao năm bôn ba chinh chiến, thắng thua đã nhiều, thấy đầu rơi máu chảy cũng lắm. Tưởng con tim đã cằn cỗi, chai sạn, vậy mà hôm nay nghe tiếng sáo của Lưu tướng quân, tôi bỗng thấy lòng khắc khoải nhớ cố quốc quá.
Giọng Nguyễn Trãi trở nên u uẩn:
- Tôi đã có dịp mục sở thị những người dân bản quốc của đại nhân sinh sống hiền hòa dưới những mái gianh thấp thoáng bên bờ liễu rủ, cũng giống y như người dân Đại Việt chúng tôi yêu cuộc sống yên lành dưới lũy tre xanh. Lại từng nghe tiếng khóc, tiếng cười con trẻ bên Ngô cũng chẳng khác gì tiếng khóc, tiếng cười của lũ trẻ ở cái làng Chi Ngại cố hương của tôi. Vương Tổng binh có biết rằng tiếng sáo của Lưu tướng quân chúng tôi đêm nay đã nói hộ nỗi buồn thương, ai oán của vạn vạn linh hồn trong chiến tranh của cả hai đất nước, hai dân tộc. Tiếng sáo có thể làm bớt đi bao nước mắt bi ai và máu nóng hận thù.
Vương Thông bồn chồn đặt chiếc chén xuống bàn:
- Chinh chiến ở Đại Việt bao năm, tôi những tưởng chiến tranh toàn là máu lửa và chém giết. Từ đêm nay, có lẽ trong con tim binh nghiệp sắt đá của tôi sẽ có thêm tiếng sáo của Lưu tướng quân.
Nguyễn Trãi khoe:
- Chắc đại nhân sẽ lạ hơn khi biết chuyện Bình Định Vương của chúng tôi quyết định hòa chứ không đánh Đông Quan là bởi sau cái đêm nghe thấy tiếng sáo của Lưu tướng quân từ bờ sông Nhị Hà vẳng về.
Vương Thông gật gù:
- Sự tương giao giữa âm nhạc với chiến trận như vậy, đúng là điều kì lạ chỉ ở Đại việt mới có.
Nguyễn Trãi lắc đầu:
- Đại nhân quên rồi, chính đất nước Trung Hoa của đại nhân ngay từ thời xa xưa đã dùng tiếng đàn tỳ bà để đưa tiễn, thúc giục người ra chiến trận, một sự đối nghịch mà tương giao như nước và lửa, như âm và dương, như tàn khốc và thanh bình. Hẳn Vương Tổng binh còn nhớ bài thơ Lương Châu từ của Vương Hàn đời Đường Huyền Tông - Nói rồi, cao giọng đọc - Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi/ Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi/ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Thưa Vương Tổng binh, những cao nhân ở Trung Hoa cũng đã từng lưu truyền câu nói: Âm nhạc sinh ra là để cho con người bớt ăn thịt lẫn nhau.
Gương mặt Vương Thông đờ ra như bức tượng, vẻ ngượng ngùng. Hình như lão ngẫm nghĩ mình đã làm đến chức tổng binh mà trò chuyện với vị sứ giả nước Nam mảnh dẻ này sao cứ như chim chích lạc rừng, mà lại lạc ngay trong khu rừng của chính đất nước mình. Lão không ngờ cái buổi tiếp kiến với sứ giả Đại Việt lại mang vẻ bình yên nhưng cũng chứa nhiều vị đắng đến vậy.
Trong lúc ấy, tiếng sáo của Lưu Nhân Chú vẫn đang da diết lan tỏa khắp thành Đông Quan.
* Mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất: Mưu trí bằng cách đánh vào lòng người, không xung trận mà giặc phải tự khuất phục.









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin