Nhớ về nhà văn - người thương binh nặng Nguyễn Minh Sơn

Võ Sa Hà 15:44, 27/06/2026

Tháng 10 năm 1976, tôi từ Quảng Uyên, Cao Bằng về TP. Thái Nguyên học Khoa Văn, Trường ĐHSP Việt Bắc. Vì là năm đầu tiên sau Ngày Giải phóng miền Nam Thống nhất đất nước nên lớp K11B của chúng tôi có tới gần 20 anh bộ đội xuất ngũ, trong đó có anh Nguyễn Minh Sơn.

Nguyễn Minh Sơn sinh năm 1954 và lớn lên tại Thái Nguyên, năm 1971 đang học Trường cấp 3 Lương Ngọc Quyến, trước tình hình chiến tranh sôi sục, anh viết đơn bằng máu xung phong đi bộ đội. Sau khi huấn luyện, anh được biên chế vào bộ đội đặc công, chiến đấu ở các chiến trường Nam Bộ, lập nhiều chiến công. Năm 1975, trong trận chiến giải phóng Miền Nam, anh bị thương nặng tại cửa ngõ Sài Gòn, may được đồng đội phát hiện và đưa ra vòng ngoài để điều trị vết thương. Sau đó anh được chuyển ra miền Bắc tiếp tục điều trị và an dưỡng. Đầu năm 1976, khi sức khỏe đã ổn định, anh xin về Trường Văn hoá Quân khu 1 ôn thi đại học và sau đó đỗ vào Khoa Văn, Trường ĐHSP Việt Bắc, trở thành người anh, người bạn học gắn bó và thân quý của tôi từ ngày ấy đến giờ.

Trong lớp chúng tôi, tụi học sinh phổ thông đều 18, 19 tuổi nên rất vui vẻ hồn nhiên, không hiểu biết nhiều về đời sống xã hội nhưng lại nhận thức nhanh, học tốt đặc biệt là các môn khó như ngoại ngữ. Nhiều anh bộ đội đã có gia đình, từng trải và chín chắn hơn về suy nghĩ. Tuy nhiên, do đã xa môi trường học tập trong nhiều năm nên việc tiếp thu kiến thức của các anh gặp không ít khó khăn; nhiều người phải nỗ lực rất lớn mới có thể theo kịp chương trình. Trong khi đó, lớp sinh viên trẻ lại có lợi thế về khả năng học tập và cập nhật kiến thức. Chính sự khác biệt ấy đã giúp hai nhóm sinh viên bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cả trong học tập lẫn cuộc sống, tạo nên một môi trường đồng học giàu tình nghĩa, gắn bó và bền vững.

Ngày ấy, sinh viên được Nhà nước bao cấp toàn bộ, tất cả ăn chung ở bếp ăn tập thể, bữa ăn vô cùng kham khổ, thiếu đói triền miên. Mọi sinh viên đều phải ở ký túc xá, trường hợp đặc biệt lắm mới được ở nhà, nếu gia đình gần trường. Ký túc xá là những dãy nhà lá lụp xụp, sinh viên nam toàn khoa dùng chung một cái giếng to... Nhà anh Minh Sơn gần trường, bố mẹ đều là cán bộ Nhà nước, anh lại là thương binh nặng cho nên đủ tiêu chuẩn ở nhà. Thế nhưng anh vẫn vào ký túc xá, anh bảo ở cùng mọi người đỡ nhớ đời lính, sống thích hơn, khỏe hơn và học hành cũng tốt hơn...

Những ngày hè nóng nực, anh em chúng tôi đều cởi trần. Lần đầu tiên nhìn thấy cơ thể anh, tụi nhóc chúng tôi đều kinh hãi. Trên cái thân thể gầy gò xương xẩu ấy là 36 vết thương tím bầm đã đóng sẹo nổi cục. Tôi nhiều lần xoa đi xoa lại các vết thương ấy, hỏi anh về những năm tháng lăn lộn chiến trường. Anh kể về từng vết thương, từng trận đánh, kể về những người đồng đội đã hy sinh, mắt anh thương buồn nhìn về xa thẳm, ánh mắt như được phủ che một làn sương xám mỏng. Lòng tôi lại rưng rưng, thầm hiểu cái giá máu xương mà cha anh đã đổ để có cuộc sống hôm nay. Anh bảo: anh vẫn còn mảnh đạn trong đầu không thể phẫu thuật cho nên thẻ thương binh của anh ghi là Thương binh Sọ não. Mỗi khi trái gió trở trời, hoặc có những biến đổi gì về thể chất, anh lại lên cơn động kinh, tự nhiên ngã lăn ra đất, mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép, chân tay co quắp... Cả lớp lại một phen hết hồn.

Vậy mà anh vẫn miệt mài học tập, cùng chúng tôi vượt qua mọi kỳ thi đến lúc ra trường. Đặc biệt, Nguyễn Minh Sơn nổi tiếng là sinh viên đam mê thơ kỳ lạ. Anh thức cả đêm để chép thơ, làm thơ, trăn trở hàng giờ trước một câu thơ lạ. Anh rất thích đọc thơ của anh cho chúng tôi nghe. Giọng đọc của anh trầm ấm, đầy cảm xúc. Những bài thơ anh viết về đời lính, về mối tình của người ra trận luôn chân thành và sâu lắng, gợi mở biết bao điều đẹp đẽ về tình yêu quê hương đất nước con người trong tâm hồn lũ nhóc chúng tôi.

Năm 1980, sau khi tốt nghiệp, anh được phân công về Trường Cấp 3 Lương Ngọc Quyến dạy học. Anh bắt đầu miệt mài trên những trang giáo án, những bài giảng văn anh gửi gắm tình yêu và khát vọng của mình. Nhưng thời gian này, vết thương anh tái phát nhiều hơn, khoảng cách những lần lên cơn ngày càng ngắn lại. Anh được điều về làm chuyên viên Phòng Giáo dục. Vài năm sau, thương tật của anh được thẩm định lại, xếp vào loại 1/4 - loại nặng nhất, có chế độ chăm sóc đặc biệt. Anh được nghỉ công tác, hưởng chế độ thương binh nặng suốt đời.

Bắt đầu từ đó, anh cùng người vợ thảo hiền là cô giáo Tiểu học bươn chải nhiều nghề để ổn định gia đình và nuôi dạy hai con gái nhỏ. Cũng nhiều phen song gió do người lính chỉ quen đánh trận đâu biết làm kinh tế… Cũng may, nhờ sự đảm đang của vợ anh và chế độ đãi ngộ của Nhà nước, các con của anh đều chịu khó học hành và đã trưởng thành. Hai cháu đều theo nghề của cha mẹ, nay con cả là Tiến sĩ Ngôn ngữ, giảng viên Trường Đại học Sư phạm, con út là thạc sĩ, giảng dạy ở một trường phổ thông trong thành phố.

Cũng từ đó, anh dành thời gian và tâm lực cho sáng tác văn học và hoạt động văn nghệ. Đêm đêm, anh vẫn miệt mài ngồi viết, trăn trở trước từng trang bản thảo. Người thương binh loại 1/4 ấy đã xuất bản gần 20 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, trường ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phê bình văn học... Tất cả đều nặng trĩu những ưu tư về thân phận con người và những khát khao tình người đẹp đẽ. Anh đã đoạt nhiều giải thưởng văn học ở Trung ương và địa phương, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền VHNT tỉnh Bắc Thái trước đây và Thái Nguyên hôm nay. Anh còn là một hội viên gạo cội của Hội VHNT các DTTS Việt Nam, có đóng góp lớn cho sự ra đời và phát triển của Hội VHNT các DTTS Việt Nam tỉnh Thái Nguyên.

Gắn bó thân thương với anh và gia đình anh tròn 50 năm, chia sẻ biết bao gian khó vui buồn, nhiều lần cùng anh xuôi Nam ngược Bắc, đi trại sáng tác, đi điền dã văn học ở khắp các tỉnh thành cả nước, tôi càng hiểu thêm đời sống tâm hồn trong sáng và cao quý của Nhà văn - Người lính đặc công - Người thương binh nặng ấy. Thế nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nổi con người ấy làm sao có được nguồn năng lượng sáng tạo liên tục và dồi dào, mãnh liệt đến vậy? Phải chăng chính bản lĩnh thép và ý chí kiên cường của một người lính đặc công; phải chăng chính tình yêu cuộc sống, tình yêu con người sâu đậm và và khát vọng sống cháy bỏng vì những giá trị nhân sinh cao quý đã làm nên bản lĩnh và vị thế của anh trong dòng chảy của văn học đất nước hôm nay! Vĩnh biệt anh! Xin được tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng bằng một bài thơ ngắn.

 

Một đời văn - một đời người

 

36 vết thương in dấu trên người anh

Mỗi lúc trở trời lại làm anh nhức nhối

Bom đạn qua đi, cuộc đời xanh lại

Nhưng những vết tím kia chẳng thể thay màu.

 

Anh vẫn ngồi viết suốt đêm thâu

Dòng thơ tuôn cùng dòng đời náo nức

Trái tim đỏ vẫn ngày đêm đập gấp

Nhịp đập đè lên những co giật trên người.

 

Anh đã về với tổ tiên rồi

Cánh hạc Minh Sơn bay vào miền mây trắng

Anh đã viết như anh hằng sống

Người chiến sĩ đặc công kiêu hãnh suốt đời!

 

Nhà văn Nguyễn Minh Sơn (1954-2026).

Quê quán tỉnh Bắc Ninh. Thường trú tại tổ 69, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên.

Là bộ đội đặc công thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là thương binh hạng 1/4 (81%).

Tác phẩm đã xuất bản:

Bông tầm xuân bé nhỏ, tập truyện ngắn 1993;

Ngọn suối hang Cô, tập truyện ngắn 1997;

Bụi đêm, Tập ký 1998;

 Miền nhớ, thơ 1999;

Cơn lốc vàng, tiểu thuyết 2001;

Miền rừng nhiều gió, Trường ca 2002;

Sóng đời, tiểu thuyết 2006;

Nụ hồng bất tử, tập truyện ngắn 2006.

Những giải thưởng chính:

Thơ:

 02 giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi thơ tỉnh Bắc Thái các năm 1980 và 1996; Giải Nhất thơ tỉnh Thái Nguyên 1997. Giải Khuyến khích cho tập "Miền nhớ" (1999) và tặng thưởng của Hội đồng nghệ thuật cho trường ca "Miền rừng nhiều gió" (2003) do Hội VHNT các DTTS Việt Nam trao tặng.

Truyện:

2 giải Nhì Cuộc thi truyện ngắn tỉnh Bắc Thái các năm 1985 và 1992; Giải Ba thi truyện ngắn Báo Văn nghệ Thái Nguyên 1998; Giải C cho tập ''Ngọn suối hang Cô" do Hội VHNT các DTTS Việt Nam trao tặng 1998.

Ký:

02 giải Nhất Cuộc thi Bút ký - Phóng sự Văn học tỉnh Thái Nguyên năm 1997. Giải C Văn học tỉnh Bắc Thái 5 năm lần thứ II (1993-1997); Giải B Văn học tỉnh Thái Nguyên 5 năm lần thứ III (1997-2001).