Lời páo dung trong sương

08:35, 13/07/2026

Không đâu nhiều sương như xứ sở này. Sương mịt mù và gió lạnh. Cũng có ngày trời trong, đứng trên đỉnh Sơn Mẫu, thấy một quầng sáng phía xa, nơi ấy là thành phố. 
Nằm ngay bên đỉnh Sơn Mẫu là bản Nà Miều. Người Nà Miều sống trong sương mù. Sáng lên rừng, tối về hái một bó lá thuốc để đun nước tắm, thứ thảo dược bí truyền của người Dao giúp cho họ có một giấc ngủ say để rồi sáng mai thức dậy lại có sức lên rừng. Cứ thế, những tháng ngày nhẫn nại trôi đi, không vui cũng không buồn. Đôi khi, thêm vào những tháng ngày nhẫn nại ấy, là câu chuyện được người ta kể cho nhau nghe, ví như chuyện cái Mùi Tá.
Mùi Tá đẻ ba lần, được ba đứa con gái, mà lần nào nó đẻ, dân bản Nà Miều cũng hỏi nhau, không biết bố đứa trẻ là ai, trong khi nó là gái có chồng, lạ thế.
Mùi Tá là người đẹp, nó đẹp từ độ mới lên mười, càng lớn lại càng đẹp, đẹp đến nỗi đàn ông không dám nhìn thẳng vào mặt nó. Mùi Tá học đến lớp chín thì được chọn cử đi học ở trường nội trú ngoài huyện. Bố nó nói, học thế là quá thừa chữ rồi, không phải học nữa. Ngày khai trường, Mùi Tá xách cái bụa quần áo trốn ra huyện, đi tìm ngôi trường của nó. Nhưng nó chỉ vừa đi ra khỏi cái quầng sương mù trên đỉnh núi đã bị bố nó bắt về, đánh đến gẫy chân, phải mời thầy lang về đắp lá thuốc. Cái chân đau, phải bó lá thuốc gần một năm trời mà Mùi Tá không một lần rơi nước mắt. Hàng xóm đến hỏi thăm, chỉ thấy nó cười, nụ cười sáng cả một góc nhà u tối. Có người còn lo rằng Mùi Tá sẽ chẳng bao giờ đứng lên được nữa, mà mặt nó cứ tươi như hoa. Vào những đêm lặng gió, Mùi Tá cất lời páo dung. Hình như khi ấy, nỗi buồn theo lời páo dung, mới tuôn ra. Lời hát không buồn, không vui mà như muối xát vào lòng “Chìu chiu chin mụi phiêm phẩy thảu/ Mậy híu mìu phiêm phảng hải pin/ Dùng chậu mài con, chình mài lậu/ Thúi xuất mài nhuần cắp khói liều. (Ngày qua ngày lòng em trông ngóng mà anh không đến/ Chẳng biết lòng anh nhớ phương nào/ Cây đa có gốc, tình có lối/ Nước hợp dòng chảy về biển khơi...”). Những lúc ấy, thể nào ngoài bờ rào nhà Mùi Tá, cũng thấp thoáng bóng người, cả già, cả trẻ.
Khỏi đau chân, Mùi Tá bỗng biến mất khỏi Nà Miều, không ai biết nó đi đâu, cũng không ai dám hỏi ông Phiển, bố nó. Người trong bản bảo, lần này bắt được nó về, bố nó sẽ đánh nó đến chết mất.

Minh họa Dương Văn Chung
Minh họa Dương Văn Chung


Hơn một năm sau ngày bỏ đi, Mùi Tá bỗng trở về. Ngày nó trở về, ông Phiển không đánh nó mà lại tự uống rượu say, nằm khóc ở chân rào. Thế rồi ông Phiển gả chồng cho Mùi Tá, chỉ sau khi nó trở về đúng bốn mươi ngày. Chồng Mùi Tá là Triệu Thắng Khầy. Nhà Khầy gần đỉnh Sơn Mẫu và nghề chính của mẹ con Khầy là nấu rượu bán cho khách du lịch. Lấy chồng tháng trước, tháng sau đã thấy cái bụng của Mùi Tá lùm lùm. Người bản thì thào, hay là không phải con của Thắng Khầy? Thắng Khầy ngày nào cũng nấu ba mẻ rượu, dẫn rượu, đong rượu, nếm rượu, cả ngày chỉ loay hoay với rượu, người nó toàn mùi rượu, từ trong ra ngoài. Bảy tháng ba ngày sau cưới, Mùi Tá sinh con gái. Đứa trẻ khỏe mạnh với chỏm tóc đen sì. Thắng Khầy vẫn miệt mài nấu rượu. Mẹ con nhà Khầy không có ruộng lại ít rừng nên phải mua gạo để nấu rượu, tiền lãi từ nồi rượu chẳng còn bao nhiêu, nấu mà không khéo, thì mất vốn. Mùi Tá về làm vợ Khầy, cũng cắm mặt vào mấy cái việc nấu cơm, ủ men, đổ nước, đảm bảo cho máng rượu chảy suốt ngày đêm.
Chuyện cái Mùi Tá bảy tháng sau khi lấy chồng đã sinh ra đứa con khỏe mạnh chả ai buồn nhắc đến nữa, thì bỗng nó lại ôm con bỏ đi. Không ai biết nó đi đâu, cũng chẳng ai buồn đi tìm nó, biết đâu mà tìm. Thắng Khầy uống rượu say, ngủ quên làm cháy mất mấy chục mẻ rượu. Cháy thế thì hết vốn. Không có tiền mua gạo, mẹ Thắng Khầy quay sang làm men bán. Bà già có tay làm men, trước đây bà nhất định giữ bí quyết, chỉ làm men cho rượu của nhà mình, giờ bà phá lệ, làm men bán, tiếng chày giã men lộc khộc suốt ngày đêm.
Rồi bỗng nhiên cái Mùi Tá lại trở về. Nó về mà không có đứa con về cùng. Ai hỏi thì nó bảo “Hỏi làm gì?”, thì cũng đến chịu nó. Chồng nó, mẹ chồng nó còn chả buồn hỏi nó, thế thì chịu chứ sao. Mùi Tá trở về nhà được ít ngày, bụng nó lại to lên. Nhìn nó ngồi giạng chân giã men, bà mẹ chồng bỗng giật phắt lấy cái chày, bảo “Đừng giã nữa”. Bà già sợ vía gái chửa làm hỏng men của bà, đó là theo phong tục.
Người trong bản lại thì thào, để xem, bao nhiêu lâu sau khi nó về, thì nó đẻ. Người ta nhớ ghê lắm, cho tới khi Mùi Tá đẻ đứa con gái thứ hai, người ta nhẩm tính, được có sáu tháng, mười ngày. Mùi Tá ở cữ, nhà chẳng còn gì ngoài mấy phơi men của bà mẹ chồng. Không có mẹ đẻ nó vác sang bao gạo với bắt sang một đàn gà, chắc mẹ con nó chết đói. Đến khi đứa trẻ cứng cáp, thỉnh thoảng người trong bản thấy Mùi Tá địu nó lên lưng, theo mẹ chồng đi hái lá làm men. Nhưng rồi Thắng Khầy bỗng lâm bệnh nặng, mặt vàng như bôi nghệ, bụng chướng to. Mùi Tá bỏ đống lá men đang ủ dở, địu con trèo lên đỉnh Sơn Mẫu, nơi có bãi đất phẳng là bãi đỗ xe của khách du lịch. Nó mon men đến gần những đám khách đang vừa tạo dáng chụp hình vừa xuýt xoa vì lạnh, chỉ để nhắc đi nhắc lại một câu duy nhất “Xinh không?”. Ý là nó hỏi đứa trẻ đang nằm trong địu, có xinh không? Hơn một tuần sau khi Mùi Tá làm cái công việc kỳ quặc ấy, đứa trẻ biến mất. Nghe đâu, nó bán con cho một cặp vợ chồng hiếm muộn với số tiền ba mươi triệu đồng.
Dân bản Nà Miều chưa hết bàng hoàng về chuyện Mùi Tá bán con, thì nó lại làm một việc mà chưa từng ai làm, đó là gọi một cái xe ô tô màu trắng đến đón Thắng Khầy lên tỉnh chữa bệnh. Ở bản Nà Miều này, bệnh nhẹ thì trèo lên xe máy chở nhau xuống trạm xá, bệnh nặng rồi thì chỉ có nằm nhà chờ chết chứ tiền đâu mà gọi xe ô tô lên tận tỉnh thế kia. Cái Mùi Tá đúng là toàn làm những việc chưa ai làm. Thế rồi chính cái xe màu trắng ấy, sau hơn mười ngày, lại chở Thắng Khầy về. Thấy bảo, bác sĩ không chữa được nữa rồi. Bà mẹ Thắng Khầy biết con sắp chết thì cũng lăn ra ốm. Thế là hai bên chái nhà, là hai người ốm, cái Mùi Tá mỗi ngày đều nấu một nồi cháo, bón cho hai người.
Cuối cùng thì hồn vía của Thắng Khầy cũng không trở về với nó nữa mà chọn đường về với cõi tiên. Mùi Tá gọi thầy cúng làm đám ma cho chồng tươm tất. Chồng nó mồ yên mả đẹp, thì bụng cái Mùi Tá lại lùm lùm. Lần này thì rõ ràng không phải con Thắng Khầy rồi. Mùi Tá đẻ đứa thứ ba cũng vẫn là con gái, mẹ chồng nó thì ốm, mẹ đẻ nó cũng không thấy đến chăm sóc nữa. Bà con trong bản người biếu con gà, người cho nắm gạo, ấy thế mà ra tháng, chẳng thấy nó địu con, chắc là nó lại bán đi mất rồi!

Minh họa Dương Văn Chung
Minh họa Dương Văn Chung


Một ngày nọ, bỗng xảy ra chuyện làm cả bản Nà Miều nhao nhác cả lên. Ấy là chuyện bộ đội biên phòng bắt được một nhóm buôn người, cứu được mấy đứa trẻ, trong đó có con gái mới sinh của Mùi Tá. Người ta không bế đứa trẻ về cho Mùi Tá mà chỉ đưa ảnh cho nó xem, đưa chiếc mũ thêu bé xíu, hỏi có phải mũ con nó không. Nghe bảo Mùi Tá đã bán con đi rồi, sẽ không được nhận con về nuôi nữa, sẽ có người khác nhận nuôi. Người ta đưa cho Mùi Tá rất nhiều những tờ giấy đầy chữ, chỉ chỗ cho nó cầm bút viết chữ “Mùi Tá” vào góc những tờ giấy. Người ta còn chích vào tay nó, lấy cả một ống máu, đem đi. Mùi Tá không vui không buồn, hai mắt long lanh như hai hòn than lửa, người nồng nặc mùi rượu. Ngất ngư say, Mùi Tá càng đẹp. Cái đẹp của một người mẹ sinh ba đứa con mà chẳng nuôi đứa nào, cái đẹp của một gái góa mới ngoài hai mươi, thật là khó tả, vừa đáng ghét, lại vừa đáng xót xa.
Sau tất cả những chuyện xôn xao về Mùi Tá, bản Nà Miều trở lại yên bình như nó vốn thế. Trời vào Đông, sương càng dày đặc. Sương mù như cái kén khổng lồ bao phủ khắp núi rừng Sơn Mẫu. Người ta đốt lửa sưởi ấm, chờ cho mùa Đông giá lạnh qua đi. Xuân về là hoa đào sẽ nở, sương tan, người Nà Miều mới có thể nhìn thấy ánh mặt trời.
Độ này, trên đỉnh Sơn Mẫu khách du lịch vẫn đến tuy không nhiều như mùa hè. Từng tốp khách ngồi trong những chiếc ô tô, lừ lừ trôi lên đỉnh Sơn Mẫu, xé lớp sương mù bằng ánh đèn pha vàng khè. Người bản Nà Miều, còn bòn mót được cái gì của rừng thì đều đem lên đỉnh Sơn Mẫu bán. Mấy cân chanh rừng úa vàng. Một vài cái tổ ong dang dở mật. Nấm ngọc cẩu chết rét tím tái. Một chậu than nướng khoai với trứng, khách du lịch sà vào, xuýt xoa vì lạnh. Bỗng trong sương mù dày đặc, vang lên lời páo dung “Ối í a, mây dỏm hô lìn dòng/ Chẳm châu lí lút theng tăng đi/ Miéo tẳng tung nòong txeng tăng veng/ Nả là quăng quăng slải thìn gầy/Mạy đẳm ơn lò khẳn gẩy cổ/ (Ôi í a, ngủ ngon, ngủ ngoan đi/ Con cóc kêu ở gầm chạn bát. Con mèo khều thức ăn trên chạn/ Mặt trăng còn khuyết ở trên trời/ Ta nằm nhìn thấy trăng ở xa...”). Lời hát trong veo như rượu rót xuống từ trời, khiến đám khách du lịch nhớn nhác. Họ vội vàng rẽ màn sương để tìm, thấy Mùi Tá ngất ngư say, đứng trân trân trong gió lạnh. “Xinh thế!”. “Đẹp thế!”. Họ thốt lên. Họ xuýt xoa. “Này! Có biết nói tiếng Kinh không?”. Mùi Tá nhìn đám khách, không nói cũng không cười, hai mắt vẫn long lanh như hai hòn than lửa. “Hát nữa đi, cho tiền nhé?”. Khách du lịch đút tiền vào cái bụa ngoắc trên tay Mùi Tá, rồi bảo “Hát đi”. Mùi Tá từ từ khép đôi mắt lại rồi cất tiếng hát. Từ đôi môi hồng như đóa bích đào, lời páo dung ngân lên như tiếng chim say sương lúc mặt trời lên, như tiếng đàn ong say mật khi mặt trời sắp lặn. Khách du lịch thi nhau rút điện thoại ra quay, chụp, ghi âm rồi lại lại dúi thêm tiền lẻ vào tay Mùi Tá. “Hát nữa đi”. “Hát nữa!...”. Mùi Tá nghiêng nghiêng đầu, những ngón tay thon đẹp của nó mân mê những chuỗi hạt kết thành nhiều vòng tròn trên chiếc khăn tầm phjả, chiếc khăn mà người phụ nữ dân tộc Dao chỉ được đội hai lần trong đời, một lần là vào ngày cưới và một lần nữa, vào khi đã lớn tuổi, trong nghi thức “kết tơ hồng” khi các ông thầy cúng làm đại lễ cấp sắc cho đức phu quân. Nhưng Mùi Tá vốn chẳng giống ai, mỗi khi hát páo dung, nó lại mang trên đầu mình chiếc khăn tầm phjả… “Hát nữa đi!...”. Lời hát chảy trôi như nước suối, như câu chuyện thầm thì kể cho nhau bên gối... “Nó hát cái gì, nó hát cái gì thế”, khách du lịch ngơ ngác hỏi. Nó hát cái gì ư? Những người Dao quanh đó cũng lặng lẽ lắc đầu, họ từ chối dịch lời hát ra tiếng Việt theo yêu cầu của khách du lịch. Lời páo dung, chỉ có thể cảm nhận bằng con tim, bằng nỗi đau, bằng cả cuộc đời...
Sương buông mỗi lúc một dày hơn, những hạt nước li ti cuối cùng cũng làm cho bộ váy áo Mùi Tá ướt mèm. Khách du lịch đã xuống núi, trước khi về, họ mua hết nải chanh, mua luôn cả mớ nấm ngọc cẩu héo hon cho bà Dìa, người bán hàng già nhất đám. Cầm đồng tiền khách đưa, bà Dìa đi mua hai cân gạo, thêm hai củ khoai nướng còn nóng hổi, bà đưa hết cho Mùi Tá, bảo “Dẳn á! Máy pá dung á! Dẳn à! - Về đi! Không hát nữa! Về đi!”. Mùi Tá không biết là còn say hay đã tỉnh, dốc ngược cái bụa của nó, làm cho những đồng tiền lẻ rơi tung tóe trên cỏ.
Cầm lấy túi gạo với hai củ khoai nướng bỏ cả vào bụa rồi ngoắc bụa vào tay, Mùi Tá ngất ngưởng ra về, bóng dáng nó chốc lát đã chìm vào màn sương dày đặc. Dưới mặt đất, những đồng tiền lẻ ướt sương, rũ ra trên cỏ.
Những người bán hàng cuối cùng trên đỉnh Sơn Mẫu cũng thu dọn ra về. Những nhà nghỉ gần đó đóng kín cửa. Sương buông mù mịt phủ kín mặt đất. Trong màn sương giá, vẫn nghe như văng vẳng lời páo dung “Tấu lây phỏng phây nàn thảu chiếm/Quả hoi phiêm tuang nin quỷa nin. (Không thể không gặp bởi lòng quá nhớ/ Chả lẽ để nỗi nhớ trong lòng năm này qua năm khác...”)n