Quả của vợ

Han Kang 18:19, 01/03/2026

1.

Đó là vào cuối tháng Năm khi tôi lần đầu tiên nhìn thấy những vết bầm tím trên cơ thể vợ mình. Một ngày mà những đóa tử đinh hương trong bồn hoa cạnh phòng bảo vệ phun ra những cánh hoa như những chiếc lưỡi bị cắt rời, và những phiến đá lát ở lối vào trung tâm dưỡng lão đóng cục những đóa hoa trắng đang thối rữa, bị giẫm đạp dưới gót giày của người qua đường.

Mặt trời đã gần lên đến đỉnh ngày.

Ánh nắng mang màu sắc của thịt quả đào chín rỉ ra sàn phòng khách, rũ bỏ vô số hạt bụi và phấn hoa. Thứ ánh nắng ngọt lịm một cách bệnh hoạn và ấm nồng ấy đổ dồn lên lưng chiếc áo may ô trắng của tôi khi tôi và vợ đang lật giở tờ báo sáng Chủ nhật.

Minh họa: Thanh Hạnh
Minh họa: Thanh Hạnh

Tuần vừa qua vẫn ghi dấu bởi sự kiệt sức giống hệt những gì tôi đã cảm thấy suốt nhiều tháng nay. Vào cuối tuần, tôi cho phép mình ngủ nướng, và tôi chỉ vừa mới thức dậy cách đây vài phút. Nằm nghiêng mình, tôi nhích dần những chi thể uể oải vào một tư thế thoải mái hơn, lướt chậm mắt qua tờ báo.

- Anh nhìn cái này xem? Em không hiểu sao những vết bầm này mãi không tan.

Tôi ghi nhận những lời của vợ như một sự xao động nhỏ trong cấu trúc của sự tĩnh lặng hơn là xử lý ý nghĩa của chúng. Tôi ngước nhìn cô ấy một cách lơ đãng.

Tôi ngồi bật dậy. Dùng một ngón tay đánh dấu chỗ đang đọc dở trên báo, tôi lấy lòng bàn tay dụi mắt. Vợ tôi đã kéo chiếc áo thun mỏng lên, đến hở cả áo lót; những vết bầm sâu lốm đốm trên lưng và bụng cô ấy.

- Làm sao mà em bị thế kia?

Cô ấy xoay người ngang thắt lưng vừa đủ để tôi thấy những đốt sống hành quân dọc theo khóa kéo của chiếc váy xếp ly. Những vết bầm xanh nhạt kích cỡ bằng nắm tay trẻ sơ sinh, hiện rõ mồn một như thể được in bằng mực.

- Trời đất! Làm thế nào mà bị như này? - Giọng tôi sắc lạnh và dồn dập, phá vỡ không gian tĩnh mịch trong căn hộ rộng mười tám p’yong (khoảng 60m2) của chúng tôi.

- Em không biết… Em cứ ngỡ mình đã va quệt vào đâu đó mà không nhận ra, và vết bầm sẽ tự hết… nhưng thực ra chúng đang to dần lên.

Vợ tôi tránh ánh mắt của tôi như một đứa trẻ bị bắt quả tang làm điều gì sai trái. Cảm thấy hơi hối hận vì đã mắng cô ấy, tôi cố gắng dịu giọng:

- Thế có đau lắm không?

- Không, chẳng đau tí nào. Thực ra ở những chỗ bầm tím không hề có cảm giác gì luôn. Nhưng anh biết đấy, thế lại càng đáng lo hơn.

Vẻ mặt tội lỗi mà tôi nhận thấy vài giây trước đã biến mất không dấu vết, thay vào đó là một nụ cười nhẹ nhàng, đầy mâu thuẫn. Nụ cười ấy vương trên môi vợ khi cô ấy hỏi liệu mình có nên đi bệnh viện không.

Cảm thấy tách biệt một cách kỳ lạ khỏi tình huống này, tôi quan sát gương mặt vợ bằng ánh nhìn lạnh lùng, vô cảm. Gương mặt trước mắt tôi cảm thấy thật lạ lẫm. Nó lạ lẫm, gần như phi thực; chẳng giống chút nào với những gì người ta mong đợi sau bốn năm chung sống.

Vợ tôi kém tôi ba tuổi, năm đó cô ấy bước sang tuổi hai mươi chín. Gương mặt ấy từng khiến cô trông trẻ đến mức đáng ngại khi chúng tôi đi cùng nhau trước khi kết hôn - cô thường bị nhầm là nữ sinh. Giờ đây, nó mang những dấu hiệu rõ rệt của sự mệt mỏi, tương phản với vẻ ngây thơ của đôi mắt mở to. Có vẻ như chẳng còn ai nhầm cô là nữ sinh nữa, hay thậm chí là sinh viên đại học. Nếu có gì khác, thì thực sự trông cô già hơn tuổi. Đôi gò má, mang màu sắc của những quả táo xanh bắt đầu ửng đỏ, đã hõm xuống như đất sét bị ấn vội. Vòng eo từng mềm mại và dẻo dai như mầm khoai lang, cái bụng từng có những đường cong quyến rũ, giờ đây gầy gò đến đáng thương.

Tôi cố nhớ lại lần cuối cùng mình thấy vợ khỏa thân trong điều kiện đủ sáng để nhìn rõ là khi nào. Chắc chắn không phải năm nay; tôi thậm chí không chắc nó có xảy ra vào năm ngoái hay không.

Làm sao tôi có thể không nhận ra những vết bầm sâu đến thế trên cơ thể người duy nhất mà tôi chung sống? Tôi cố đếm những nếp nhăn li ti tỏa ra từ khóe mắt vợ. Sau đó tôi bảo cô ấy cởi bỏ hết quần áo. Một vệt đỏ hiện lên dọc theo xương gò má, thứ mà sự sụt cân đã khiến chúng trở nên sắc lẹm một cách khiếm nhã. Cô ấy cố gắng phản đối.

- Lỡ có ai nhìn thấy thì sao?

Không giống hầu hết các căn hộ thường hướng ra vườn hoặc bãi đậu xe, ban công của chúng tôi nhìn ra con lộ chính phía đông. Vì chúng tôi cách khối chung cư gần nhất ba dãy phố, ngăn cách bởi cả con lộ và dòng suối Chungnang, nên không ai có thể nhòm ngó nếu không có một kính viễn vọng. Chắc chắn không có khả năng ai đó lại liếc nhìn vào phòng khách từ bên trong những chiếc ô tô đang lao nhanh trên đường. Vì vậy, tôi chỉ coi sự phản kháng của vợ là dấu hiệu của sự ngại ngùng. Vào những ngày cuối tuần hồi mới cưới, cũng chính tại phòng khách này, với cả cửa kính dẫn ra hiên và cửa sổ phía đối diện mở toang để giảm bớt cái nóng oi ả của tháng Tám, chúng tôi từng làm tình nhiều lần giữa ban ngày, vụng về khám phá thứ cảm giác mới mẻ này cho đến khi cuối cùng gục ngã vì kiệt sức.

Sau khoảng một năm, chúng tôi không còn lạ lẫm với tình yêu của mình nữa, và sự cuồng nhiệt của những ngày đầu dần tan biến. Vợ tôi đi ngủ khá sớm, và cô ấy là một người ngủ sâu bất thường. Nếu tôi về nhà muộn, tôi mặc nhiên coi như cô ấy đã ngủ say. Khi tôi vặn chìa khóa vào ổ cửa trước và bước vào căn hộ, cô độc và không có ai chào đón, tắm rửa rồi bước vào phòng ngủ tối om, nhịp thở đều đặn của cô ấy tác động đến tôi như một sự hoang vắng không thể lý giải. Nếu tôi ôm lấy cô, hy vọng làm dịu đi sự cô đơn này, đôi mắt lim dim vì ngái ngủ của cô chẳng cho tôi biết liệu cô đang khước từ hay nồng nhiệt đáp lại cái ôm đó. Cô chỉ đưa những ngón tay im lặng vuốt tóc tôi cho đến khi những chuyển động của cơ thể tôi dừng lại.

- Hết ạ? Anh muốn em cởi hết ra sao?

Gương mặt cô ấy nhăn nhúm lại, cố gắng kìm nén một đợt nước mắt chực trào, vợ tôi cuộn mẩu đồ lót vừa cởi ra thành một quả bóng và che đi vùng kín.

Và kia là cơ thể trần truồng của cô ấy, phơi bày trọn vẹn dưới ánh nắng xuân. Thực sự đã quá lâu rồi.

Vậy mà tôi không hề cảm thấy một chút rạo rực ham muốn nào. Thấy những vết bầm xanh vàng không chỉ trên mông mà còn trên xương sườn và ống chân, làm vẩn đục cả phần thịt trắng trẻo ở mặt trong đùi, cơn giận dữ chiếm lấy tôi, rồi đột ngột buông lơi, để lại dư vị của một nỗi u sầu vô cớ. Đối với người phụ nữ có đầu óc dễ xao nhãng này, liệu giấc ngủ đã làm tan biến cả ký ức về việc đi bộ trên phố vào đầu buổi tối - các giác quan đã mụ mị bởi bức màn ngủ đang buông xuống - rồi đâm sầm vào một chiếc ô tô đang chạy chậm, hay có lẽ là trượt chân ngã nhào xuống cầu thang thoát hiểm không đèn trong tòa nhà của chúng tôi?

Hình bóng vợ tôi đứng đó, che chắn vùng kín khi ánh nắng cuối xuân đổ dồn lên lưng, lơ đãng hỏi liệu mình có nên đi bệnh viện không, thực sự quá thảm hại, đáng thương và sầu muộn không lời nào xiết kể, đến mức tôi bị chạm đến bởi một nỗi buồn đã lâu không cảm thấy. Tôi chỉ biết ôm lấy thân hình gầy trơ xương của cô ấy vào lòng.

2.

Tôi đã ngỡ mọi chuyện rồi sẽ ổn. Và đó là lý do tại sao tôi đã ôm lấy khung xương gầy của vợ trong vòng tay vào ngày xuân đó và nói: “Nếu không đau thì chắc chắn những vết bầm sẽ sớm nhạt đi thôi. Trước đây em đâu có bao giờ để mình xuống sức thảm đến thế này, đúng không”? Tôi làm dịu sự trách móc bằng cách cất tiếng cười.

Một đêm đầu hè, cơn gió bão hòa hơi nóng cọ những gò má dính dấp của nó vào lá của những cây tiêu huyền cao vút, và những con phố với đôi mắt đỏ ngầu chập chờn từ sáng đến tối. Vợ tôi, người ngồi đối diện tôi bên bàn khi chúng tôi cùng ăn bữa tối muộn, đặt chiếc thìa xuống với một tiếng cạch. Tôi đã hoàn toàn quên mất những vết bầm của cô ấy.

- Kì lạ quá… anh nhìn lại xem.

Sau khi quan sát hai cánh tay gầy guộc thò ra từ ống tay áo ngắn, vợ tôi nhanh chóng lột phăng chiếc áo thun và áo lót. Một tiếng rên rỉ ngắn thoát ra khỏi miệng tôi trước khi tôi kịp nuốt ngược trở lại.

Những vết bầm vốn chỉ bằng nắm tay trẻ sơ sinh vào mùa xuân trước, giờ đây trông giống như những chiếc lá dọc mùng lớn. Trên hết, chúng đã sẫm màu lại. Chúng có màu xám xịt của những cành liễu rủ, thứ màu xanh nhạt dường như nhuốm một chút sắc xanh dương khi mùa hè bắt đầu.

Tôi vươn bàn tay run rẩy vuốt ve bờ vai bầm tím của vợ, cảm thấy như mình đang chạm vào cơ thể của một người lạ. Phải đau đớn đến mức nào vì có những vết bầm như thế này?

Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng gương mặt vợ tôi ngày hôm đó cũng được tráng một lớp màu xanh, như thể bị thấm đẫm nước chì. Mái tóc từng bóng mượt của cô ấy giờ giòn như lá phong khô. Tròng trắng mắt hiện lên một sắc chàm nhạt, như thể mực từ đôi con ngươi đen láy bất thường của cô đã loang ra. Đôi mắt cô long lanh nước.

- Tại sao chuyện này lại xảy ra với em? Em cứ muốn ra ngoài, và ngay khi ra ngoài… ngay khi thấy ánh nắng, thực ra là em lại thôi thúc muốn cởi hết quần áo. Cứ như thể cơ thể em muốn thoát khỏi chúng vậy.

Vợ tôi đứng dậy, cho tôi cái nhìn rõ nhất trong cả năm qua về thân hình trần truồng, khô héo của cô.

- Ngày kia, em đã ra ban công mà không mặc gì và đứng cạnh chiếc máy giặt sấy. Không cần biết có ai nhìn thấy mình không… và thậm chí không thèm che đậy bản thân… ý em là, cứ như em là một người đàn bà điên vậy!

Tôi không làm gì khác ngoài việc ngồi nhìn trân trân vào nửa thân trên gầy trơ xương của vợ khi cô ấy tiến lại gần tôi, những ngón tay bồn chồn lướt dọc theo cạnh đôi đũa đang cầm.

- Em cũng mất cảm giác ngon miệng nữa. Nhưng em lại uống nhiều nước hơn trước… em thậm chí không ăn nổi nửa bát cơm trong cả ngày. Và vì em không ăn, em đoán là axit dạ dày không được tiết ra đúng cách hay sao ấy. Thậm chí nếu em ép mình ăn, thì không tiêu hóa được và lại nôn sạch ra.

Cô ấy quỵ xuống như một con rối bị cắt dây và vùi mặt vào đùi tôi. Chắc chắn là cô ấy không khóc chứ? Một vệt ẩm ướt, ấm nóng hình thành trên chiếc quần nỉ của tôi.

- Anh có biết cảm giác nôn mửa vài lần một ngày là thế nào không? Nó giống như bị say xe ngay cả khi đang đứng trên đất bằng; anh phải đi cúi gập người, không thể nào đứng thẳng lên được. Đầu anh đau như thể… như thể mắt phải đang khoan vào trong vậy. Vai anh cứng như gỗ, anh chảy nước miếng, axit dạ dày màu vàng trên phiến đá lát đường, trên rễ cây bên đường…

Tiếng vo ve cao vút của một con côn trùng phát ra từ chiếc đèn huỳnh quang đang hỏng. Dưới luồng sáng đặc quánh đó, vợ tôi, với vết bầm trên lưng to bằng chiếc lá của cây râm bụt, đã cố gắng dập tắt âm thanh thút thít đang rỉ ra từ cô.

- Đi bệnh viện đi - tôi nói với cô ấy, nhìn thẳng vào mặt cô - Ngày mai, đi thẳng đến khoa nội.

Gương mặt ướt nhòe, loang lổ của cô thật khó nhìn. Khi những ngón tay xòe ra của tôi vuốt qua mái tóc giòn rụm của vợ, tôi nở một nụ cười gượng gạo.

- Và hãy cẩn thận khi đi đứng. Anh không muốn em lại làm mình bị thương nữa đâu. Em đâu còn là trẻ con mà cứ ngã với va đập linh tinh.

Gương mặt ướt át của vợ tôi run lên thành một nụ cười, và một giọt nước mắt đọng trên môi cô kéo dài ra rồi tách rời hẳn.

3.

Liệu vợ tôi có phải lúc nào cũng dễ rơi nước mắt như thế không? Không, không phải vậy. Lần đầu tiên tôi thấy cô ấy khóc là khi cô hai mươi sáu tuổi.

Khi còn là một cô gái trẻ, cô ấy dễ cười hơn, giọng nói luôn mang âm hưởng tươi sáng, tiếng cười như một vệt màu rực rỡ. Tôi nghe thấy giọng nói ấy - cái sự điềm tĩnh trưởng thành vốn thường mâu thuẫn với vẻ ngoài trẻ trung - run rẩy lần đầu tiên khi cô bảo tôi: “Em ghét phải sống trong những tòa nhà cao tầng ở Sanggye-dong.”

- Bảy trăm nghìn người nhồi nhét cùng nhau, em cảm thấy mình như sắp héo mòn và chết đi. Em ghét hàng trăm hàng nghìn tòa nhà giống hệt nhau, những gian bếp giống hệt nhau, trần nhà, nhà vệ sinh, bồn tắm, ban công và thang máy giống hệt nhau; và em ghét cả những công viên, khu nghỉ ngơi, cửa hàng và lối băng qua đường nữa. Em ghét tất cả.

- Điều gì khiến em nghĩ thế, hử? - Tôi nói như thể đang dỗ dành một đứa trẻ cáu kỉnh, vì tôi chú ý đến sự mềm mại trong giọng nói của vợ nhiều hơn là những gì cô thực sự đang nói - Có gì để mà không thích khi nhiều người được sống gần nhau chứ?

Tôi giữ vẻ mặt hơi nghiêm nghị khi nhìn vào mắt vợ. Đôi mắt sống động, sáng rực của cô.

- Em đã luôn muốn rằng những căn phòng mình thuê phải nằm gần khu giải trí. Em chỉ chuyển đến những nơi đông nghẹt người, nơi nhạc xập xình tràn ra đường phố, ô tô làm tắc nghẽn mặt đường và bấm còi inh ỏi. Nếu không, em không thể chịu đựng nổi. Em không thể chịu đựng được sự cô độc.

 Ngay cả khi vợ tôi lấy mu bàn tay gạt nước mắt trên má, chúng lại được thay thế bằng một dòng chảy liên tục.

- Và giờ đây, giống như em sắp rơi vào một cơn bạo bệnh kéo dài rồi chết đi vậy. Giống như em sẽ không thể xuống khỏi tầng mười ba này, giống như em sẽ không bao giờ có thể ra ngoài được nữa.

- Sao em cứ phải làm quá lên như thế? Thật tình, hơi quá rồi đấy.

Trong năm đầu tiên ở những căn chung cư cao tầng này, vợ tôi thường xuyên đau ốm. Cô ấy vốn đã quen với môi trường tự nhiên của một căn phòng thuê ở những khu đồi dốc của Seoul, và cơ thể cô dường như không thể thích nghi với một căn hộ sưởi ấm trung tâm, kín mít. Mức năng lượng của cô sớm sụt giảm, chẳng còn đủ sức để làm gì hơn ngoài một chuyến đi bộ nhanh lên con dốc mỗi ngày để đến tòa soạn nhỏ nơi cô làm việc với mức lương ít ỏi.

Nhưng không phải vì cuộc hôn nhân của chúng tôi mà cô nghỉ việc. Chỉ sau khi cô nghỉ, không lâu sau đó, tôi mới bàn chuyện cưới xin cụ thể. Cô ấy đã rút hết số tiền mình có - bất cứ thứ gì cô đã dành dụm từ lương tháng và trợ cấp hưu trí, cộng thêm tiền làm thêm vào cuối tuần - và đang lên kế hoạch rời khỏi đất nước.

- Em muốn đi để thay dòng máu mới trong huyết quản mình - cô nói.

Đó là vào buổi tối của ngày cuối cùng cô nộp đơn xin nghỉ việc cho cấp trên trực tiếp. Cô bảo tôi rằng cô muốn truyền bỏ dòng máu xấu đang vón cục trong tĩnh mạch như những khối u nang và gột rửa đôi lá phổi cũ kỹ, mệt mỏi của mình bằng không khí trong lành. Sống và chết một cách tự do đã là giấc mơ của cô từ khi còn nhỏ, cô nói vậy; cô đã trì hoãn nó vì thời điểm không thích hợp, nhưng giờ cô cảm thấy mình đã dành dụm đủ để biến giấc mơ thành hiện thực. Cô dự định chọn một quốc gia, ở lại đó khoảng sáu tháng, rồi chuyển đến nơi khác, cứ thế tiếp tục. “Em muốn làm điều đó trước khi chết, anh biết đấy,” cô nói và khẽ cười. “Em muốn thấy tận cùng thế giới. Để đi xa nhất có thể, từng chút một.”

Nhưng cuối cùng, thay vì lên đường tới tận cùng thế giới, vợ tôi đã đổ hết số tiền ít ỏi của mình vào khoản đặt cọc cho căn hộ này và chi phí đám cưới của chúng tôi. Cô giải thích điều này với tôi chỉ bằng một câu ngắn gọn, nói rằng cô làm vậy “vì em thấy mình không thể xa anh”. Giấc mơ này của cô thực tế đến mức nào? Giấc mơ về sự tự do ấy? Cứ xét đến việc cô có thể từ bỏ nó dễ dàng như vậy, tôi cho là không mấy thực tế. Toàn bộ chuyện đó hẳn không gì hơn là một ảo tưởng lãng mạn, viển vông, và những kế hoạch cô lập ra chẳng khả thi hơn kế hoạch của một đứa trẻ muốn lên mặt trăng. Cuối cùng, cô hẳn đã tự mình nhận ra tất cả những điều này, và tôi cảm thấy có chút cảm động và tự hào khi nghĩ rằng chính tôi là người đã thúc đẩy sự nhận thức muộn màng ấy.

Có lẽ tất cả là do những cơn đau nhức thường xuyên của cô, nhưng khi tôi thấy vợ đứng ép má vào cửa kính ban công, đôi vai hẹp rũ xuống như những lá bắp cải héo khi cô nhìn chằm chằm xuống những chiếc ô tô đang lao nhanh, tim tôi thắt lại. Cô đứng im lìm đến mức chỉ có tiếng thở cực nhẹ mới xác nhận cô còn sống; cứ như thể một đôi tay vô hình đang kìm kẹp vai cô, như thể một quả cầu sắt khổng lồ gắn vào một sợi xích vô hình ngăn cô không thể cử động dù chỉ một khối cơ.

Trong đêm khuya và những giờ rạng sáng, vợ tôi thường giật mình tỉnh giấc, bị quấy rầy bởi tiếng taxi hoặc xe máy thỉnh thoảng rú ga trên con phố vốn vắng lặng. “Cứ như thể con đường đang chạy tốc độ chứ không phải những chiếc xe, như thể căn hộ này đang bị cuốn trôi cùng con đường vậy”, cô nói. Ngay cả sau khi tiếng động cơ đã lùi xa vào khoảng không và giấc ngủ đã kéo cô về, gương mặt xinh đẹp của vợ tôi vẫn tái nhợt như chết.

Vào một đêm như thế, vợ tôi lầm bầm như trong giấc mơ, giọng khản đặc chỉ vừa đủ nghe: “Tất cả những thứ đó, chúng đến từ đâu… và tất cả chúng đang chạy đi đâu vậy?”

4.

Chiều tối hôm sau, khi tôi mở cửa trước và bước vào căn hộ, tôi thấy vợ đã ra cửa đón mình, có lẽ đã nghe thấy tiếng bước chân của tôi ngoài hành lang. Cô ấy đi chân trần và đường cong của những móng chân - thứ mà cô không thường xuyên cắt tỉa như nên làm - lóe lên sắc trắng.

- Ở bệnh viện người ta nói sao?

Không có câu trả lời. Sau khi lặng lẽ quan sát tôi tháo giày, vợ tôi quay đi, vén một lọn tóc xám xịt đang vương trên má ra sau tai.

Cái góc nghiêng đó, tôi tự nhủ với lòng mình. Tôi nhớ lại khi chúng tôi được giới thiệu lần đầu với nhau, một sự im lặng trơn tru trôi qua sau khi người đàn anh của tôi - người đóng vai trò trung gian - đứng dậy và để chúng tôi lại một mình, và tôi đã bối rối thế nào trước vẻ mặt bí ẩn của người vợ tương lai. Nó làm cô trông như đang đi lạc ở một nơi nào đó rất xa xôi, trong một địa điểm không được tiết lộ. Trong khuôn mặt ấy, vốn thoạt nhìn chỉ thấy tươi sáng và đáng yêu, tôi đã có thể đọc được một nỗi cô đơn không ngờ tới, dường như của một con người hoàn toàn khác, và chính điều này đã cho tôi một niềm tin nhất thời rằng cô hiểu tôi. Khi đó, chính niềm tin này cùng với hơi men đã dẫn dắt tôi thốt ra lời thú nhận rằng tôi đã cô đơn suốt cả cuộc đời, người phụ nữ hai mươi sáu tuổi sau này trở thành vợ tôi đã quay đi đối diện với đường chân trời xa xăm, để tôi đối mặt với chính cái góc nghiêng lạnh lẽo, hoang vắng mà tôi đang phải đối mặt lúc này.

- Em có đi bệnh viện thật không đấy?

Vợ tôi nghiêng đầu, một cái gật nhẹ đến mức khó nhận ra. Liệu cô ấy quay đi để che giấu sắc diện ốm yếu, hay do có điều gì tôi đã làm?

- Thôi nào, làm ơn đi, nói với anh đi. Bác sĩ nói sao?

- Họ bảo ổn - cô nói, giống một tiếng thở ra hơn là một lời khẳng định. Giọng cô phẳng lặng đến đáng sợ.

Trong buổi gặp gỡ đầu tiên đó, chính giọng nói của cô là thứ thu hút tôi nhất. Đó là một sự so sánh vô nghĩa, nhưng giọng nói của cô làm tôi liên tưởng đến một chiếc bàn trà được sơn mài và tráng men tinh xảo; một trong những món đồ nội thất thanh nhã mà bạn sẽ không nỡ mang ra dùng ngoại trừ cho những vị khách quan trọng nhất, và là nơi chỉ cảm thấy đúng đắn khi phục vụ loại trà ngon nhất, trong những chiếc tách đẹp nhất. Đêm đó, dường như không hề nao núng trước lời thú nhận mà tôi đã lỡ lời, câu trả lời của vợ tôi hoàn toàn thực tế, và được truyền tải bằng tông giọng điềm tĩnh thường lệ. Và em, cô ấy nói, em muốn sống cả đời mà không định cư ở một nơi cố định nào.

Sau đó, tôi đã nói về cây cối. Tôi kể cho cô nghe tôi đã có một giấc mơ nơi ban công chật kín những chậu hoa lớn, mỗi chậu đầy ắp xà lách xanh và lá tía tô. Vào mùa hè, những bông hoa li ti sẽ nở trên cây tía tô như những hạt tuyết. Và sẽ có cả giá đỗ mọc trong bếp nữa, tôi nói thêm. Điều đó cuối cùng đã vắt ra một tiếng cười khẽ từ vợ tôi, người đã nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi như thể tất cả những lời bàn về cây cối này hoàn toàn trái ngược với hình dung của cô về tôi. Cố gắng bám lấy cái đuôi của tiếng cười ngây thơ, mong manh ấy, tôi lại nói những lời đó một lần nữa:

-Anh đã cô đơn suốt cả cuộc đời.

Sau khi cưới, tôi đã đặt những chậu hoa ngoài ban công như đã bàn, nhưng cả hai chúng tôi đều không chứng tỏ được mình có khiếu làm vườn. Vì bất cứ lý do gì, ngay cả những loại rau xanh cứng cáp mà tôi đồ rằng chỉ cần tưới nước thường xuyên, cũng héo rũ và chết đi mà không cho chúng tôi một vụ thu hoạch nào.

Có người nói rằng căn hộ tầng cao của chúng tôi quá xa rời năng lượng của mặt đất; người khác lại bảo cây cối của chúng tôi chết hết vì không khí và nước quá tệ. Thậm chí chúng tôi còn bị bảo rằng mình thiếu đi sự thành tâm cần thiết để chăm sóc những sinh linh, nhưng điều đó đơn giản là không đúng. Cái cách mà vợ tôi toàn tâm toàn ý dành trọn bản thân để chăm sóc những cái cây đó đã vượt xa mọi mong đợi. Nếu một cây xà lách hay tía tô héo úa, điều đó đủ để khiến cô rơi vào trầm uất suốt nửa ngày, còn nếu có cây nào dường như vẫn đang bám trụ kiên cường với sự sống, cô sẽ đi lại quanh nhà và ngân nga một điệu nhạc tươi vui.

Vì lý do nào đó, giờ đây chẳng còn gì sót lại trong những chậu hoa hình chữ nhật ngoài ban công ngoài lớp đất khô khốc. Tất cả những cái cây đã chết đó đã đi đâu rồi nhỉ, tôi tự hỏi? Và còn những ngày mưa khi tôi đặt những chậu hoa lên bệ cửa sổ để chúng nhúng đôi tay vào những vệt mưa lạnh giá, tất cả những ngày trẻ dại ấy đã đi đâu mất rồi?

Vợ tôi đã quay sang tôi và nói:

- Chúng mình hãy đi đâu đó thật xa đi, chỉ hai chúng mình thôi.

Không giống như những cái cây, vốn sẽ hồi sinh ít nhất một chút khi lá của chúng đón lấy cơn mưa tiếp sức ấy, vợ tôi trông như đang héo mòn vào một trạng thái trầm uất sâu sắc hơn bao giờ hết.

- Không thể sống nổi ở cái nơi ngột ngạt này - cô nói, vươn bàn tay gầy gò qua những lá xà lách để hứng lấy những hạt mưa đang rơi, rồi rẩy chúng xuống ban công -  Cơn mưa này thật bẩn thỉu, đen kịt những đờm dãi.

Đôi mắt cô tìm kiếm sự đồng tình của tôi.

- Đây không phải là sống - cô thốt ra - nó chỉ trông giống như vậy thôi - Giọng cô sắc bén với sự thù địch, giống như lời tuyên bố lèm bèm của một kẻ say: Cái xứ sở này thối nát hết rồi!

- Chẳng có cách nào để cái gì có thể lớn lên ở đây được, anh không thấy sao? Không phải khi bị mắc kẹt ở đây trong cái… trong cái nơi ngột ngạt và inh tai nhức óc này!

Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa:

- Cái gì ngột ngạt? - Tôi không thể chịu nổi những cú châm chọc sắc lẹm mù quáng làm vỡ vụn hạnh phúc mới tìm thấy đầy bấp bênh của mình, hay dòng máu của sự khổ sở bị kìm nén bấy lâu mà những lời nói của cô đang rút ra từ cơ thể hao mòn của chính cô. - Nói cho anh nghe xem - Tôi hất số nước mưa mình hứng được trong lòng bàn tay khum lại lên vai vợ - Cái gì ngột ngạt? Cái gì inh tai nhức óc?

Một tiếng rên khẽ thoát ra từ vợ tôi, đôi tay cô vung vẩy trước mặt. Nước mưa lạnh lẽo bắn lên kính ban công, lên mặt tôi. Chậu hoa trên bệ cửa sổ đâm vào chân vợ tôi bằng cái cạnh sắc của nó trước khi rơi xuống sàn ban công vỡ tan tành. Những mảnh gốm thô và những cục đất bám vào quần áo vợ tôi, vào đôi chân trần của cô. Cô cúi xuống, ôm lấy bàn chân bị thương bằng cả hai tay và cắn môi dưới.

Cắn môi là một thói quen đã lâu của cô; ngay từ trước khi cưới, cô đã làm vậy mỗi khi tôi nổi giận hoặc cao giọng. Việc dằn vặt làn môi dường như giúp cô sắp xếp lại suy nghĩ, và sau một lúc cô sẽ bắt đầu trả lời bất cứ điều gì tôi đã nói hoặc làm, liệt kê các luận điểm một cách bình tĩnh và logic. Nhưng sau sự cố trên ban công đó, đôi môi bị cắn chặt trở thành phản ứng duy nhất tôi có thể nhận được từ cô. Chúng tôi ngừng tranh cãi sau ngày hôm đó.

- Bác sĩ nói không có vấn đề gì sao? - Tôi cảm thấy một làn sóng mệt mỏi và cô đơn mãnh liệt. Khi tôi cởi bỏ chiếc áo vest, vợ tôi đã không đón lấy nó từ tay tôi.

- Ông ấy nói không tìm thấy gì bất thường - cô xác nhận, gương mặt vẫn ngoảnh đi nơi khác.

5.

Vợ tôi dần mất đi chút khả năng ngôn ngữ ít ỏi còn sót lại. Cô không nói trừ khi được hỏi, mà ngay cả khi đó, câu trả lời duy nhất cũng chỉ là một cái gật đầu hoặc lắc đầu. Nếu tôi cao giọng, đòi hỏi cô phải trả lời, cô chỉ trân trân nhìn vào khoảng không với một vẻ mơ hồ trong đôi mắt. Sắc diện ngày càng tệ đi của cô giờ đây có thể nhận thấy rõ ràng ngay cả dưới ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn huỳnh quang.

Cứ cho là bác sĩ nói không tìm thấy gì bất thường, thì có lẽ, thay vì một vấn đề thể chất nào đó ở dạ dày hay đường ruột, đây đơn giản là một ca bệnh của sự khao khát. Nhưng rốt cuộc cô ấy có thể khao khát điều gì trên đời này cơ chứ?

Ba năm qua là quãng thời gian ấm áp và bình yên nhất cuộc đời tôi. Công việc không quá vất vả, tôi may mắn có được một chủ nhà không tìm cách tăng tiền đặt cọc căn hộ, tôi gần như đã trả xong khoản thế chấp cho căn hộ mới và tôi có một người vợ mà dù không đẹp xuất sắc, nhưng lại là tất cả những gì tôi mong muốn ở một người bạn đời; sự mãn nguyện của tôi giống như dòng nước ấm vỗ nhẹ vào thành bồn tắm đầy ắp, vuốt ve cơ thể kiệt quệ của tôi.

Vậy thì vấn đề của vợ tôi là gì? Nếu cô ấy thực sự đang khao khát điều gì đó, tôi không thể hình dung nổi nó nghiêm trọng đến mức nào để cấu thành một chứng bệnh tâm căn. Mỗi khi tôi đặt câu hỏi liệu người đàn bà này thực sự có quyền gì mà gây cho tôi nỗi cô đơn đến thế, tôi cảm thấy như toàn bộ con người mình bị nhấn chìm trong một sự ghê tởm vô hạn, cô lập tôi như một lớp bụi cũ kỹ.

Sáng Chủ nhật tuần sau đó, một ngày trước khi tôi phải lên đường cho chuyến công tác nước ngoài kéo dài một tuần, tôi đứng nhìn vợ giũ quần áo ngoài ban công. Những vết bầm giờ đây che phủ gần hết cánh tay cô đến mức những phần da trắng trẻo trông giống như những vết bầm ngược, những đốm trắng nhỏ giữa toàn một màu xanh thẫm. Tôi nín thở. Khi cô bê chiếc giỏ quần áo trống không trở lại phòng khách, tôi chặn đường và đòi cô phải cởi quần áo ra. Cô phản kháng, nhưng tôi đã lột được chiếc áo thun của cô, để lộ một bên vai nhuộm màu xanh đục và tối tăm.

Tôi loạng choạng lùi lại và nhìn chằm chằm vào cơ thể cô. Hơn một nửa phần lông nách từng rậm rạp đã rụng hết, và màu sắc đã rút sạch khỏi đôi nhũ hoa màu nâu vốn từng mềm mại và dịu dàng.

- Mọi chuyện không thể tiếp tục thế này được. Anh sẽ gọi cho mẹ em.

- Không, đừng gọi, để em tự làm - vợ tôi vội vã hét lên, phát âm của cô bị biến dạng như thể cô đang nhai chính lưỡi mình.

- Đi bệnh viện đi, nghe chưa? Đến bác sĩ da liễu. Không, hãy đến bệnh viện tổng quát ấy.

Cô gật đầu, câm lặng.

- Em biết anh không có thời gian để đi cùng em mà. Em tự biết cơ thể mình, nên em phải giữ nó ổn thỏa chứ, đúng không?

 Cô lại gật đầu.

- Nghe anh này. Gọi cho mẹ đi.

Vợ tôi tiếp tục gật đầu, môi mím chặt. Liệu cái gật đầu đó có nghĩa là cô đang nghe không? Rất có thể, những lời của tôi đã lọt từ tai này sang tai kia; tôi có thể nghe thấy chúng rơi xuống sàn phòng khách, vỡ vụn như những chiếc bánh quy khô rẻ tiền.

6.

Cửa thang máy mở ra. Tôi đi dọc theo hành lang tối om, tay xách chiếc vali cồng kềnh, và nhấn chuông. Không có phản hồi.

Tôi áp tai vào lớp thép lạnh giá của cánh cửa. Tôi tiếp tục nhấn chuông, lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, kiểm tra xem nó còn hoạt động không; nó vẫn bình thường, tôi có thể nghe thấy tiếng chuông vang lên bên trong căn hộ, mặc dù hiệu ứng cách âm của cánh cửa khiến nó nghe như thể phát ra từ một nơi nào đó xa xôi hơn nhiều. Tôi dựng chiếc vali dựa vào cửa và nhìn đồng hồ. Tám giờ tối. Cứ cho là vợ tôi ngủ sâu, nhưng thế này thì chắc chắn là hơi quá.

Tôi kiệt sức. Tôi cũng chưa ăn gì. Chỉ lần này thôi, tôi không muốn phải mất công lục tìm chìa khóa.

Có lẽ vợ tôi đã gọi cho mẹ và đi bệnh viện như tôi bảo, hoặc đã về ở với họ hàng dưới quê. Nhưng không - ngay khi bước qua cửa, tôi đã nhìn thấy mớ hỗn độn quen thuộc gồm dép đi trong nhà, giày thể thao và giày cao gót của cô ấy.

Tôi tháo giày, xỏ chân vào đôi dép lê, vô thức ghi nhận cái không khí lạnh lẽo thường thấy của căn hộ. Tuy nhiên, trước khi đi được vài bước, tôi nhận ra một mùi hôi thối nồng nặc. Tôi mở tủ lạnh; bên trong, những đĩa thức ăn từ bí ngòi và dưa chuột đã nhăn nhúm và biến dạng thành những khối nhầy nhụa, thối rữa.

Khoảng nửa bát cơm vẫn còn sót lại trong nồi; rõ ràng nó đã ở đó từ khá lâu vì cơm đã khô khốc và dính chặt vào lòng nồi. Khi tôi mở nắp, mùi cơm ôi thiu nồng nặc xộc vào mũi cùng với luồng hơi nước vẫn còn âm ấm.

Có một đống bát đĩa bẩn trong bồn rửa và mùi thum thủm bốc ra từ chiếc chậu nhựa trên nóc máy giặt, nơi đống quần áo nằm vũng trong thứ nước xà phòng màu xám xịt.

Vợ tôi không có ở phòng ngủ, phòng tắm, hay phòng trống mà chúng tôi dùng để chứa đồ. Tôi gọi tên cô; không lời đáp. Trong phòng khách chỉ có tờ báo sáng nằm trải ra đúng vị trí tôi đã để lại tuần trước; một vỏ hộp sữa 500ml rỗng; một chiếc ly thủy tinh lấm tấm những giọt sữa đông đặc; một chiếc tất trắng của vợ tôi bị lộn trái; và một chiếc ví da giả màu đỏ; tất cả vương vãi chỗ này một ít, chỗ kia một ít.

Tiếng gầm rú của động cơ xe hơi khi chúng lao nhanh xuống con lộ chính cắt một đường sắc lẹm vào khối trống rỗng đặc quánh của căn hộ.

Vì tôi đang mệt và đói, vì đống bát đĩa đang gỉ sét trong bồn rửa mà không có lấy một chiếc thìa sạch để tôi xúc cơm, tôi cảm thấy cô đơn. Vì tôi đã trở về một ngôi nhà trống rỗng sau khi đi một quãng đường xa xôi như thế, vì tôi muốn kể về tất cả những điều vụn vặt xảy ra trên chuyến bay dài, về những cảnh sắc đã lướt qua cửa sổ trên những con tàu ở xứ người, vì không có ai hỏi "Anh có mệt không?", tước đi của tôi cơ hội để chứng tỏ sự kiên cường bằng một câu "Anh ổn" đầy khắc kỷ, tôi thấy cô đơn.

Và vì nỗi cô đơn này, tôi trở nên giận dữ. Vì cảm giác rằng do sự tầm thường của cơ thể mình, tôi căn bản không thể hòa nhập vào cấu trúc của thế giới này, vì cái lạnh đang thấm qua lớp quần áo đột nhiên trở nên mỏng manh, và vì ý nghĩ rằng tất cả những gì tôi làm được trong đời cho đến nay chỉ là lừa dối bản thân thành công rằng mình được trân trọng, tôi thấy giận dữ. Cô độc, và không có ai yêu thương, sự tồn tại của tôi cũng giống như đã bị dập tắt rồi.

Đúng lúc đó, tôi nghe thấy một giọng nói yếu ớt.

Tôi quay về phía âm thanh đó. Đó là giọng của vợ tôi. Một tiếng lầm rầm yếu ớt vọng vào từ ban công, không thể dịch nổi.

Ngay lập tức, nỗi cô đơn mãnh liệt ấy biến thành một cảm giác nhẹ nhõm, và khi tôi hùng hổ bước về phía ban công, tôi cảm thấy một cơn kích động xoáy ra từ đầu lưỡi.

-Sao em không trả lời anh nếu em đã ở đó suốt bấy lâu hả? - Tôi đẩy mạnh cửa hiên ra - Cái nhà này được điều hành kiểu gì thế này? Rốt cuộc em đã sống bằng cái gì vậy?

Rồi tôi nhìn thấy cơ thể trần truồng của vợ, và đứng khựng lại.

Vợ tôi đang quỳ xuống, đối diện với lớp lưới sắt kéo ngang cửa sổ ban công, hai cánh tay giơ lên như thể cô đang reo hò. Toàn bộ cơ thể cô là một màu xanh lục thẫm. Gương mặt từng sầu tối của cô giờ đây lấp lánh như một chiếc lá thường xuân bóng bẩy. Mái tóc vốn như lá củ cải khô giờ lại mượt mà như thân của loài cỏ dại.

Hai mắt cô lấp lánh vẻ nhợt nhạt trên gương mặt xanh lục. Quay lại đối diện với tôi khi tôi đang lùi lại vì sợ hãi, cô chuyển động như muốn đứng dậy. Nhưng thay vào đó, những cơn co thắt giật lên vô dụng dọc theo đôi chân cô. Cô dường như không thể đứng hay đi được nữa.

Vòng eo dẻo dai của cô vặn xoắn một cách đau đớn. Chiếc lưỡi đã teo lại đung đưa như một loài thủy sinh giữa đôi môi xanh thẫm. Đã không còn dấu vết nào của răng nữa.

Một tiếng kêu duy nhất, chẳng khác gì một tiếng rên rỉ, thoát ra từ giữa đôi môi mấp máy đầy những đốm nhạt màu ấy.

- ... Nước.

Tôi chạy bổ đến bồn rửa, vặn vòi hết cỡ và đổ đầy chậu nhựa cho đến khi nước tràn ra ngoài. Nước vỗ vào thành chậu theo từng bước chân vội vã của tôi, bắn tung tóe xuống sàn phòng khách khi tôi lao trở lại ban công. Ngay khi tôi dội nước lên ngực vợ, toàn bộ cơ thể cô trải qua một sự hồi sinh run rẩy, giống như chiếc lá của một loài đại thụ. Tôi quay lại đổ đầy chậu nước, rồi trở về dội lên đầu cô. Tóc cô dựng đứng lên, như thể một sức nặng vô hình nào đó vừa được giải tỏa. Tôi nhìn cơ thể xanh lục lấp lánh của cô nở rộ tươi mới sau phép rửa của mình. Tôi cảm thấy chóng mặt.

Vợ tôi chưa bao giờ đẹp đến thế.

7.

Mẹ ơi.

Con không còn khả năng viết thư cho mẹ nữa rồi. Hay mặc chiếc áo len mẹ để lại đây. Chiếc áo len lông cừu màu cam ấy, cái mà mẹ đã vô tình để quên khi lên thăm con vào mùa đông năm ngoái.

Con đã mặc nó vào ngày sau khi anh ấy đi công tác. Mẹ biết con sợ lạnh thế nào mà.

Áo chưa được giặt, nên nó vẫn còn mùi của những món ăn cũ trộn lẫn với mùi da thịt của mẹ. Vào một ngày khác, có lẽ con đã giặt nó rồi, nhưng lúc đó trời quá lạnh, và hơn nữa, con muốn tiếp tục hít hà mùi hương đó, nên con cứ mặc nó mãi, thậm chí mặc cả khi đi ngủ. Sáng hôm sau, sương giá vẫn chưa chịu buông lơi, và có lẽ vì con quá lạnh và khát nên khi ánh nắng ban mai cuối cùng cũng xuyên qua cửa sổ phòng ngủ, một tiếng kêu nghẹn ngào đã bật ra từ con: Mẹ ơi. Muốn được bao bọc trong luồng sáng ấm áp đó, con đã ra ban công và trút bỏ quần áo. Những tia nắng xuyên qua làn thịt trần trụi của con giống mùi hương của mẹ đến lạ kỳ, con đã quỳ ở đó và gọi Mẹ ơi, mẹ ơi. Không còn lời nào khác.

Con tự hỏi đã bao nhiêu thời gian trôi qua. Nhiều ngày, nhiều tuần, hay nhiều tháng? Khi nhận thấy không khí không còn đặc biệt ấm áp nữa, tất cả những gì con ghi nhận sau đó chỉ là một sự tăng nhẹ của nhiệt độ, tiếp nối bởi một sự sụt giảm tương ứng.

Bất cứ lúc nào từ bây giờ, những ô cửa sổ của những căn hộ xa xăm bên kia dòng suối Chungnang cũng sẽ rực cháy một ánh sáng màu cam.

Liệu những người sống ở đó có nhìn thấy con không? Còn những chiếc ô tô đang lao đi trên lộ chính, ánh sáng tuôn ra từ đèn pha của chúng thì sao? Giờ đây trông con như thế nào nhỉ?

Anh ấy đã cực kỳ tử tế. Anh ấy mua một chậu hoa khổng lồ và trồng con vào đó. Vào những ngày Chủ nhật, anh dành cả buổi sáng ngồi bên bậu cửa ban công để bắt rệp cây.

Anh, người vốn lúc nào cũng kiệt sức, giờ đây sáng nào cũng leo lên ngọn núi phía sau khu chung cư, trở về với một thùng nước khoáng để tưới chân cho con (anh ấy đã nhớ rằng con không thích nước máy). Cách đây một thời gian, anh đã đổ hết chậu hoa của con và thay đất bằng một vòng tay đầy đất mùn màu mỡ mới. Khi cơn mưa đêm qua đã gột rửa bớt bụi bẩn khỏi không khí thành phố, anh mở toang cửa trước và cửa sổ để không khí trong lành được lưu thông.

Thật kỳ lạ, mẹ ạ. Ngay cả khi không nhìn, không nghe, không ngửi và không nếm, mọi thứ cảm thấy tươi mới hơn, sống động hơn. Con cảm nhận được sự ma sát thô bạo của lốp xe khi chúng lướt qua nhựa đường, những rung động cực nhỏ từ bước chân của anh ấy khi anh mở cửa trước và đi về phía con, bầu không khí sũng nước mưa đang phồng lên với những giấc mơ màu mỡ, luồng ánh sáng xám xịt của bình minh.

Con cảm thấy những mầm non đang nảy nở và những cánh hoa đang bung mở ở những nơi cả gần lẫn xa, những ấu trùng chui ra khỏi kén, những chú chó chú mèo đang hạ sinh con non, nhịp mạch đập ngắt quãng run rẩy của ông cụ ở tòa nhà bên cạnh, rau chân vịt đang chần trong chảo ở căn bếp tầng trên, một bó hoa cúc bị bẻ gãy đang được cắm vào bình cạnh chiếc máy hát ở căn hộ tầng dưới. Dù ngày hay đêm, các vì sao vẫn vẽ nên một đường parabol tĩnh lặng, và mỗi khi mặt trời mọc, thân cây tiêu huyền bên đường cao tốc lại nghiêng cái cơ thể đang khao khát của chúng về phía đông. Cơ thể con cũng phản ứng theo cách tương tự.

Mẹ có hiểu không? Con biết, sớm thôi, ngay cả suy nghĩ cũng sẽ mất đi trong con, nhưng con ổn. Con đã mơ về điều này, về việc có thể sống chỉ bằng gió, ánh nắng và nước, từ rất lâu rồi.

Những ý nghĩ về khi con còn nhỏ: khi con chạy vào bếp và vùi mặt vào vạt váy của mẹ, cái mùi thơm ngon lành đó; mùi dầu mè, mùi hạt mè rang. Con lúc nào cũng nghịch đất, mẹ biết mà. Bàn tay lấm lem bùn đất của con làm bẩn gấu váy mẹ.

Lúc đó con bao nhiêu tuổi nhỉ? Một ngày xuân mờ mịt mưa phùn, cha nhấc con lên chiếc máy cày tay và lái chúng ta xuống bờ biển. Tiếng cười vô tư của người lớn trong bộ đồ đi mưa, những đứa trẻ với mái tóc ướt bết vào trán, nhảy nhót và vẫy tay, khuôn mặt của chúng xoay tròn, nhòe đi.

Ngôi làng nghèo ven biển đó là cả thế giới của mẹ. Mẹ sinh ra ở đó và lớn lên ở đó. Mẹ sinh con ở đó, làm việc ở đó, già đi ở đó.

Đến một lúc nào đó, mẹ sẽ được nằm lại dưới chân khu mộ gia đình mình, cạnh bên cha.

Chính nỗi sợ hãi sẽ kết thúc giống như mẹ, mẹ ơi, đã khiến con đặt ra một khoảng cách xa xôi giữa bản thân và quê nhà. Rời nhà năm mười bảy tuổi, những khu đô thị ở Busan, Daegu, Gangneung, nơi con lang thang vô định suốt hơn một tháng, vẫn còn nằm lại trong trí nhớ. Nói dối về tuổi tác tại một nhà hàng Nhật Bản, một mình chạy việc vặt, những buổi tối cuộn tròn ở tư thế bào thai trong phòng đọc sách - con đã thích nơi đó. Những ánh đèn lấp lánh của khu đô thị, vẻ quyến rũ hào nhoáng của những cư dân nơi ấy.

Con không biết mình bắt đầu nhận ra từ khi nào rằng mình sẽ kết thúc trong sự già nua và tàn tạ, lang thang trên những con phố đông đúc người lạ này. Con không hạnh phúc ở nhà và cũng chẳng hạnh phúc ở nơi nào khác, vậy nên hãy nói cho con biết, con nên đi đâu đây?

Con chưa bao giờ hạnh phúc. Có linh hồn bị đọa đày nào cứ mãi ở sau lưng con, siết chặt lấy cổ họng con, tay chân con không? Con chỉ luôn muốn chạy trốn, một xung năng cực kỳ cơ bản, nỗi đau kích thích một tiếng khóc, cú véo tạo ra một tiếng thét. Ngồi bó gối ở hàng ghế cuối xe buýt, trông có vẻ như con chẳng nỡ làm hại một con ruồi, vậy mà suốt thời gian đó con khao khát được đập tan cửa kính bằng nắm đấm của mình. Dòng máu sẽ chảy dọc xuống lòng bàn tay, con sẽ liếm láp nó như một con mèo liếm sữa. Con đã cố chạy trốn khỏi điều gì, điều gì đã hành hạ con đến mức con khao khát được trốn sang phía bên kia thế giới? Và điều gì đã giữ con lại, làm con khập khiễng, làm con què quặt? Những xiềng xích nào đã đè nặng con xuống, ngăn cản cú nhảy có thể loại bỏ dòng máu bệnh hoạn này?

Vị bác sĩ già lặp đi lặp lại việc gõ nhẹ vào ống nghe bằng ngón tay, lẩm bẩm rằng bên trong con im lìm như nấm mồ. Rằng âm thanh duy nhất là những luồng gió vang vọng từ một nơi xa xăm. Ông đặt ống nghe xuống bàn và chuyển màn hình siêu âm. Con nằm yên khi ông bôi một lớp gel dính dấp lên bụng rồi xoa một dụng cụ hình que lạnh ngắt lên da thịt, di chuyển một cách có phương pháp từ chấn thủy xuống bụng dưới. Thông qua dụng cụ đó, có vẻ như một hình ảnh bên trong con đã được truyền tới màn hình, với hai màu đen trắng.

- Bình thường, - ông lẩm bẩm, tặc lưỡi - Những gì chúng ta đang nhìn thấy là ruột của cô… chẳng có gì bất thường ở đó cả.

Mọi thứ đều được tuyên bố là “bình thường”.

- Dạ dày, gan, tử cung, thận, tất cả đều ổn.


Jy Khanh chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Deborah Smith

Tác giả Han Kang (sinh năm 1970) là nhà văn hiện đại tiêu biểu của Hàn Quốc, nổi tiếng với phong cách văn chương đầy ám ảnh và giàu tính triết lý.

Năm 2024, bà trở thành phụ nữ châu Á đầu tiên và là người Hàn Quốc đầu tiên được trao tặng Giải Nobel Văn học. Trước đó, bà đã gây tiếng vang quốc tế khi giành giải Man Booker International năm 2016 với tiểu thuyết "Người ăn chay" (The Vegetarian). Văn chương của Han Kang thường xoáy sâu vào những nỗi đau thân phận, sự mỏng manh của con người và mối liên kết giữa thể xác với tâm hồn. Bà có khả năng đặc biệt trong việc đối diện với những bi kịch lịch sử và những tổn thương tâm lý qua ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ, tinh tế.

Các tác phẩm tiêu biểu khác của bà bao gồm: "Bản chất của người", "Trắng", "Bài ca hy vọng" và "Không chia ly". Han Kang được vinh danh vì "thứ văn xuôi mãnh liệt, đầy chất thơ, đối diện với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của đời sống con người.