Trên những triền đồi miền biên viễn, nơi sương sớm còn vương mùi cỏ dại và tiếng gà rừng vọng về từ những rặng lau xa, có một loài hoa chẳng cần mời gọi ai, vẫn khiến bước chân người lữ thứ chậm lại. Đó là hoa xuyến chi, theo ngôn ngữ Tày của chúng tôi là bjoóc kìm cúng. Cái tên nghe hơi trúc trắc, khô khan nhưng lại là một loài hoa có sức sống bất diệt của núi rừng.
![]() |
Bjoóc kìm cúng không rực rỡ như hoa đào biên giới, cũng chẳng mang vẻ lộng lẫy kiêu sa như phong lan giữa rừng già, hoa đẹp hoang sơ, mộc mạc đến nao lòng. Những cánh hoa trắng nhỏ như cánh bướm, ôm lấy nhụy vàng óng ánh như giọt nắng cuối ngày. Hoa giản dị mà quyến rũ, như linh hồn cô sơn nữ Tày với làn da trắng và nụ cười e ấp sau vành khăn chít màu chàm.
Với người Tày, bjoóc kìm cúng- một loài hoa mảnh hồn gắn kết con người với thiên nhiên. Rất nhiều lần, mẹ tôi hái ngọn non bjoóc kìm cúng nấu canh, đặt vào mâm cùng món cá suối kho măng chua. Món ăn như gói trọn cả tinh túy của núi rừng. Những món ăn dân dã ấy hoà cùng khói bếp gợi nên cảm giác thân thương chẳng bao giờ quên được. Tôi lớn lên cùng hoa, cùng tiếng lửa reo nơi bếp mẹ với những ngọn non bjoóc kìm cúng chan chát nơi đầu lưỡi mà ngọt hậu trong lòng.
Mỗi mùa xuân đến, bjoóc kìm cúng theo chân các cô gái Tày, góp phần hiện diện trong Lễ hội Lồng tồng, nơi người người rộn ràng trong tiếng trống, tiếng đàn Tính ngân nga. Giữa đồng rộng, đội văn nghệ mang trang phục áo chàm truyền thống, cổ đeo vòng bạc, hông đeo xà tích lấp lánh dưới nắng ban mai, uyển chuyển bước nhịp nhàng trong điệu múa mừng lúa mới. Những thiếu nữ cài bjoóc kìm cúng lên mái tóc, lặng lẽ trao ánh nhìn cho người mình thương, ánh mắt chứa bao điều chưa nói, lấp lánh như giọt sương trên cánh hoa trắng tinh khôi.
Người Tày quan niệm mỗi ngọn cây, nhành hoa đều có linh hồn, là một phần trong vòng tròn âm dương hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Bjoóc kìm cúng vì thế còn là bức tranh của núi rừng mang sắc trắng tinh khôi tô điểm và làm nền cho phong cảnh bản làng một cách sinh động. Các lễ cúng truyền thống như Tết mồng 3 tháng 3, Tết mồng 5 tháng 5, hay Tết Rằm tháng Bảy báo hiếu tổ tiên, bjoóc kìm cúng tuy không có mặt trên ban thờ như bánh khẩu sli, men rượu ngô… nhưng trên khắp các ngả đường của làng bản, hoa nở trắng, hoa theo bước chân người đi, như là những lời nguyện cầu thanh sạch gửi lên trời cao.
Trong những lễ hội mùa xuân, khi tiếng Tính, câu Then ngân vang, bjoóc kìm cúng lại hiện diện như một chứng nhân lặng lẽ. Người Tày luôn tin rằng, âm nhạc, đặc biệt là Then và đàn Tính là cách con người trò chuyện với thần linh, tổ tiên. Và bjoóc kìm cúng, loài hoa không cần ai chăm sóc mà vẫn kiêu hãnh nở giữa đá sỏi, cũng là một lời chào mộc mạc gửi đến đất trời.
Tôi còn nhớ, có những đêm rằm, khi trăng treo lơ lửng trên mái nhà sàn, lũ trẻ trong bản lại được ông bà kể chuyện xưa. Chuyện về nàng tiên hoa trắng hoá thân thành bjoóc kìm cúng để cứu dân làng khỏi hạn hán; hay chuyện những cặp đôi yêu nhau phải xa cách, chỉ hẹn nhau bằng nhành hoa nhỏ giắt bên bờ suối. Những câu chuyện ấy, dù thực hay hư, vẫn làm mắt trẻ thơ lấp lánh niềm tin, và làm người lớn thầm thổn thức trong nỗi nhớ bản xưa.
Nay, với cuộc sống mưu sinh ồn ào tất bật, đôi khi bắt gặp một khóm xuyến chi ven đường, mỏng manh, bé nhỏ giữa bê tông, bụi khói. Mỗi lần như thế, tôi lại thấy lòng mình chùng xuống, như được ai đó lặng lẽ gọi về. Tôi lại thấy bản làng mờ trong sương sớm, lại thấy mái tóc mẹ thơm mùi củi nếp, thấy bóng áo chàm phấp phới trong lễ hội đầu năm. Tôi thấy chính mình, một đứa trẻ Tày từng mơ ước bay theo cánh bjoóc kìm cúng, vượt qua đồi nương để xem bên kia trời có những điều gì mới mẻ...
Bjoóc kìm cúng - bông hoa trắng năm cánh mỏng tang ôm lấy nhụy vàng như màu nắng cuối ngày, cũng là của hồn Tày, cũng là điểm tựa trong tâm trí tôi. Nó không chỉ là kỷ niệm, mà còn nhắc nhở về nguồn cội, bản sắc, là sợi dây vô hình nối tôi với tổ tiên, với tiếng xóc nhạc, tiếng đàn Tính, lời Then, thấm sâu vào lòng người ở mảnh đất nơi mỗi bông bjoóc kìm cúng đều biết hát lên khi gió về.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin