Trang văn nghệ Tuổi Hoa số 19, phần Văn xuôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc truyện ngắn "Hội Lồng tồng năm ấy" của bạn Lê Đức Anh. Câu chuyện kể về một cậu bé lần đầu tiên đi hội Lồng tồng cùng mẹ. Lễ cúng cầu mùa trang trọng, linh thiêng cùng phần hội tưng bừng ấy là trải nghiệm đầu đời đẹp đẽ, hằn sâu vào ký ức cậu bé. Cậu bé đã mang theo những kỷ niệm đẹp đẽ ấy vào hành trình trưởng thành của mình. Yêu thương và tự hào biết bao về truyền thống văn hóa quê mình chính là điều mà bạn Lê Đức Anh gửi gắm tới bạn đọc.
Trang thơ Tuổi Hoa lần đầu tiên xuất hiện hai cây bút thơ trẻ nổi bật và đầy tiềm năng của Thái Nguyên. Dương Phương Hoa với bài thơ "Bến cũ" thêm một lần khẳng định sự ổn định về giọng điệu và phong cách thơ của mình. Những câu thơ là những lời tâm sự da diết, vừa trĩu nặng những lo lắng vừa bừng sáng những hy vọng. Tiếp theo là Trần Hải Đăng và bài thơ "Ngày hôm nay đã muộn". Con người Hải Đăng thuộc về tự sự, viết gì thì bạn ấy cũng chỉ nói về nội tâm của mình khi soi chiếu và đặt trong những mối thâm tình khác. Mà bài thơ này, Hải Đăng viết về mối tương giao bà nội trong niềm day dứt, tiếc nuối vô hạn khi bản thân mình đã không thể trưởng thành sớm hơn để kịp nói ra những câu yêu thương.
(Nhà văn Tống Ngọc Hân chọn và giới thiệu)
Hội Lồng tồng năm ấy
Truyện ngắn của Lê Đức Anh
Hằng năm, vào dịp sau Tết Nguyên đán, cứ đến ngày Thìn đầu tiên của tháng Giêng, người dân từ khắp mọi nơi lại nô nức tìm về tham dự Lễ hội Lồng tồng - lễ hội truyền thống trong tín ngưỡng của người đồng bào dân tộc Tày sinh sống tại vùng đất ATK gió ngàn. Lễ hội là dịp người dân gửi gắm ước mong về một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người bình an, hạnh phúc.
![]() |
| Minh họa: Ngọc Khánh |
Gia đình Tý cũng vậy. Ngay từ những ngày cuối năm, khi cả gia đình đang tất bật dọn nhà đón Tết, Tý đã bắt đầu háo hức. Em theo mẹ dọn dẹp nhà cửa, quét sân, lau bàn thờ, trang trí cây đào, mà lòng không lúc nào thôi mong ngóng. Ngày nào Tý cũng hỏi, giọng ngây thơ mà đầy hy vọng:
- Ngày mai đã có Lồng tồng chưa hả mẹ?
Lần nào mẹ cũng mỉm cười, xoa đầu Tý rồi dịu dàng đáp:
- Chưa đâu con. Khi nào đến Lồng tồng, hai mẹ con mình cùng đi nhé!
Nghe được vậy, Tý không giục giã, không mè nheo mà lại càng thêm háo hức, càng mong chờ tới ngày hội đến, lặng lẽ đếm từng ngày trôi qua.
Rồi cuối cùng, ngày Tý mong chờ nhất cũng đến. Tối hôm trước ngày hội, Tý nao nức mà mãi không ngủ được. Trong đầu Tý hiện lên đủ thứ hình ảnh mà em từng được xem trên vô tuyến: nào là trống hội, nào là cúng bái, nào là những bộ trang phục sặc sỡ của bà con các dân tộc thiểu số, hay cả những màu sắc hài hòa của quả còn. Nghĩ tới đó, tim Tý lại đập nhanh hơn. Mẹ thấy Tý không ngủ được, mẹ hiểu ngay, rồi kể chuyện cho em nghe:
- Con biết không, ngày bé mẹ cũng như con vậy. Ngày ấy chưa có hội Lồng tồng như bây giờ đâu nhưng chợ Tết ngày xưa cũng nhộn nhịp lắm. Mẹ thích đi chợ Tết đến nỗi đòi mãi bà ngoại con mới cho đi vì chợ xa, phải đi bộ, bà sợ mẹ ốm. Kí ức trong mẹ mãi không phai nhòa khoảnh khắc mẹ mới bước vào cổng chợ, người dân đã đang tấp nập sắm sửa đồ Tết, không gian đỏ rực được người dân bày biện khắp khu chợ với nhiều món đồ trang trí cũng như đồ ăn. Ở đó còn có cả một khu tổ chức các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, đi cà kheo, nhảy bao bố, ô ăn quan, không khí tưng bừng rộn ràng đón Tết ấy khiến mẹ nhớ mãi.
Giọng mẹ cứ đều đều, mà ấm áp, Tý nghe rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Sáng hôm sau, Tý dậy từ rất sớm. Tý tự chọn cho mình chiếc áo ấm nhất, đứng trước gương chỉnh lại cổ áo rồi chạy ra khoe mẹ. Mẹ nhìn Tý, mỉm cười, mắt mẹ lấp lánh vui. Hai mẹ con rời khỏi nhà trên chiếc xe máy cũ quen thuộc, lên đường đi đến hội.
Hôm ấy là một ngày xuân rất đẹp. Hai mẹ con rời đi khi bầu trời vừa le lói những tia nắng sớm dịu dàng xuyên qua màn sương mỏng. Xung quanh là những lớp sương mù chưa kịp tan hết, phủ lấy khu đồi như một tấm voan trắng bao bọc lấy thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng ATK.
Tý ngồi phía sau, đôi mắt quan sát khung cảnh yên bình của quê hương mình. Hai bên đường, những cánh đồng rộng lớn trải dài, lúa non xanh mướt. Trên ruộng, các bác nông dân đã đang cặm cụi cấy lúa, bàn tay thoăn thoắt, người cúi thấp giữa đất trời mênh mang.
Tý tò mò hỏi mẹ:
- Các bác ấy có đi Hội Lồng tồng không hả mẹ?
Mẹ bật cười, nói vui:
- Tí nữa là thấy các bác ấy đi ngay đằng sau mình ấy mà!
Tý cười theo, nhưng đâu biết rằng mẹ đang giấu em một điều: Các bác nông dân kia sẽ không đi hội, bởi họ phải ở nhà để cày cấy, gieo vào đất những mầm xanh của sự mới mẻ, an lành.
Suốt quãng đường đi, Tý hỏi mẹ đủ thứ chuyện. Hỏi về hội Lồng tồng, hỏi về những trò chơi, hỏi cả những vùng đất mà em đi qua, cứ thấy lạ mắt thì em lại có nhiều suy tư, khúc mắc. Mẹ lại kiên nhẫn giải thích:
- Lồng Tồng là lễ hội xuống đồng, con ạ. Người dân tổ chức lễ hội để cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trong hội còn có rất nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, hôm nay, mẹ sẽ dẫn con đi xem hết!
Tý nghe, nhiều chỗ em chưa hiểu, nhưng lòng thì vui lắm. Em chỉ mong xe đi thật nhanh để tới nơi sớm để được hòa mình vào không khí náo nhiệt ấy.
Khi đến nơi, trước mắt Tý hiện ra một khung cảnh hoàn toàn khác với suy nghĩ ban đầu của em. Hội được tổ chức trên một triền ruộng cạn rộng lớn đủ chỗ cho rất đông người tụ lại. Chẳng thế mà người ta lại gọi hội này là hội xuống đồng. Người từ khắp các bản làng, xã xung quanh đổ về ngày một đông. Những bộ trang phục dân tộc sặc sỡ sắc màu hòa cùng tiếng cười nói rộn ràng khiến không gian lễ hội như bừng tỉnh. Khung cảnh lúc ấy không chỉ để miêu tả một ngày hội, mà còn là một bản nhạc xuân rực rỡ, được dệt nên từ âm thanh, màu sắc và nhịp sống mãnh liệt của con người. Âm thanh và sắc màu ấy còn ngân lên nhịp điệu của sức sống căng tràn.
Bước tiếp vào khu vực lễ hội, Tý không khỏi ngỡ ngàng. Những hội trại của các xã dự thi được dựng lên đủ màu sắc, mỗi trại đều có lá cờ Tổ quốc tung bay phấp phới trong gió xuân. Ở trung tâm là sân khấu lớn - nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng của hội.
Khi tiếng trống khai hội vang lên, Tý giật mình, bồi hồi khi sắp được chứng kiến nghi lễ linh thiêng của hội. Tý đứng nép sát vào mẹ, mắt không rời sân khấu. Trên đó, các nghi lễ cầu mùa của dân tộc Tày, dân tộc Sán Chay và lễ cầu phúc của dân tộc Dao lần lượt được thực hiện trong không khí trang nghiêm.
Những mâm cỗ tế lễ được chuẩn bị công phu: xôi, gà, đầu lợn, bánh trái… tất cả đều được sắp xếp cẩn thận với lòng thành kính, dâng lên các vị thần rừng, thần núi, thần trời và thần đất. Tý lần đầu tiên được chứng kiến khung cảnh ấy. Em vừa tò mò, vừa có chút sợ hãi. Bàn tay nhỏ của em vô thức ôm chặt lấy mẹ.
Mẹ cúi xuống, thì thầm:
- Đừng sợ, con, đây là nghi lễ để cầu mong điều tốt lành tới tất cả chúng ta!
Nghe mẹ nói, Tý mới dần yên tâm hơn.
Sau lễ cầu mùa là một nghi lễ không thể thiếu trong hội Lồng tồng, đó là lễ “xuống đồng”. Thầy Tào xuống ruộng làm lễ, một người nông dân đại diện sẽ bắt đầu với những luống cày, khởi đầu cho một vụ mùa mới. Nhìn những đường cày thẳng tắp trên ruộng và chú trâu to khỏe đang kéo cày, Tý bỗng thấy đất trời thật thiêng liêng.
Kết thúc nghi lễ là hội thi tung còn. Mỗi người cầm trên tay một quả còn rực rỡ sắc màu, hướng về chiếc vòng hồng tâm treo cao giữa trời. Tý ngước nhìn, tò mò hỏi:
- Cái vòng đỏ đỏ kia là gì vậy mẹ?
Mẹ nhẹ nhàng giải thích:
- Đó là vòng hồng tâm, biểu tượng cho đất và trời. Người ném còn đầu tiên làm thủng vòng sẽ đánh dấu sự khởi đầu của thiên nhiên khởi sắc!
Nghe xong, Tý tròn mắt thích thú.
Khi chứng kiến quả còn đầu tiên đã xuyên thủng vòng hồng tâm, cùng sự hò reo vui mừng từ mọi người dân, Tý chỉ cho mẹ xem rồi vỗ tay reo mừng.
Sau phần lễ là phần hội. Mẹ dắt Tý đi xem các trò chơi dân gian: thi cấy, giã bánh giầy, bịt mắt bắt dê, đi cà kheo, kéo co, đẩy gậy… Tiếng hò reo vang lên không ngớt, mỗi trò lại có đông đảo người dân tới xem và cổ vũ. Tý vui lắm. Như đã hòa mình với hội, Tý chạy theo mẹ, cảm giác như cả mùa xuân đang ùa vào lòng.
Đi một hồi, Tý bắt đầu thấy bụng mình réo lên khe khẽ. Mẹ nhận ra ngay, liền dắt em ghé vào một gian hàng nhỏ nằm nép bên lối đi. Gian hàng ấy bày bán đủ thứ đồ ăn truyền thống của quê hương được các cô bán hàng kì công làm nên: cơm lam, xôi ngũ sắc đẹp mắt, thơm phức được gói cẩn thận trong lá dong xanh mướt, bánh khảo, bánh chưng, bánh chè lam…Mùi thơm của nếp mới hòa cùng mùi khói bếp thoang thoảng khiến Tý càng muốn thưởng thức những món ăn truyền thống này.
Mẹ mua cho Tý một ống cơm lam và một gói xôi ngũ sắc. Khi mở lớp lá ra, những hạt xôi dẻo thơm hiện lên với đủ màu sắc: đỏ, vàng, tím, xanh, trắng, mỗi màu là một vị, một mùi hương riêng của núi rừng ATK, nó mộc mạc mà quyến luyến đến lạ thường. Tý cầm miếng xôi còn ấm trên tay, cắn một miếng thật to, vị ngọt bùi của nếp mới lan ra trong miệng khiến em thích thú vô cùng. Ống cơm lam mẹ tách thơm ngào ngạt mùi tre nứa, mang theo hương vị rất đỗi quen thuộc của mỗi gia đình. Những món ăn này thật giản dị và gắn liền với cuộc sống nhân dân miền quê, nó không cầu kì nhưng khi được thưởng thức, mọi người khó có thể quên được những hương vị đặc trưng của quê hương, của mùa xuân này.
- Ngon quá mẹ ơi! - Tý reo lên, đôi mắt mở to.
Mẹ cũng vui lắm, nhìn con ăn mà lòng đầy ấm áp:
- Đồ ăn ngày hội quê mình đấy con ạ, ăn để biết, để nhớ hương vị quê mình!
Tý gật đầu, vừa ăn vừa nhìn dòng người qua lại tấp nập. Với em, hương vị của cơm lam, của xôi ngũ sắc hôm ấy dường như đã hòa vào không khí lễ hội, để rồi sau này, mỗi khi nhớ về hội Lồng tồng, em không chỉ nhớ tiếng trống khai hội, sắc áo dân tộc, mà còn nhớ mãi cái vị thơm bùi rất riêng của quê hương mình.
Sau khi đã no bụng, mẹ dẫn Tý xem hết các trò chơi trong hội, để cho con thấy những trò chơi dân gian vẫn luôn được lưu truyền qua các thế hệ. Mẹ còn mua cho Tý một quả còn rực rỡ, được điểm thêm với những chiếc tua vải đung đưa theo gió. Tý sung sướng vô cùng, nhảy cẫng lên. Tý cũng thử tung quả còn lên cao giống mọi người, rồi cười khúc khích khi quả còn rơi xuống.
Sau đó, mẹ lấy xe để về nhà. Đứng đợi mẹ, Tý chợt nhìn thấy một chiếc khăn vải ai để rơi trên cỏ. Chiếc khăn màu chàm, viền chỉ đỏ, còn vương mùi hương nhang nhẹ. Tý nhặt lên, nhìn quanh, không thấy ai đến tìm. Nắm chiếc khăn trong tay, tim em đập khẽ. Không hiểu vì sao, Tý không gọi mẹ, cũng không hỏi ai. Em lặng lẽ gấp chiếc khăn lại, giấu vào túi áo.
Về đến nhà, việc đầu tiên Tý làm là treo quả còn lên góc bàn học, như một món quà quý giá của tuổi thơ mà mẹ đã tặng em. Nhìn dây trang trí của quả còn đung đưa trong gió, Tý lại nhớ lại khoảnh khắc quả còn xuyên qua vòng hồng tâm, bỗng thấy lòng mình phơi phới lạ thường.
Một lát sau, Tý lấy chiếc khăn vải trong túi áo ra, đặt lên bàn. Tý nhìn rất lâu, như đang nghĩ ngợi điều gì đó. Rồi Tý cầm chiếc khăn lên, chạy vào vườn, buộc vào cán cây cuốc nhỏ mà mẹ đã làm riêng cho Tý để phụ mẹ làm vườn. Nút buộc vụng về, không đẹp, nhưng lại chắc chắn như chính suy nghĩ non nớt mà chân thành của Tý lúc ấy. Tý dựng cuốc ở góc đất quen thuộc, nơi hàng ngày hai mẹ con vẫn miệt mài cuốc xới, gieo trồng. Tý chỉ đơn giản nghĩ rằng: nếu lễ hội là để cầu mùa, thì chiếc cuốc - thứ gắn liền với ruộng vườn, với những mồ hôi của mẹ cũng nên được dự phần vào mùa xuân ấy.
Rồi thời gian cứ trôi đi, Tý đã lớn lên, phải rời quê hương để đi học ở thành phố. Quả còn năm xưa vẫn còn nguyên nơi góc bàn, tua vải đã phai màu theo năm tháng, chiếc cuốc nhỏ trong vườn đã cũ đi, nhưng chiếc khăn chàm ngày nào đã được mẹ giữ lại, giặt sạch và cất cẩn thận, dù mẹ chẳng biết vì sao nó lại ở đó. Mỗi lần trở về quê, nhìn quả còn khẽ lay trong gió, nhìn góc vườn thân quen, Tý lại nhớ da diết mùa Lồng tồng năm ấy. Với Tý, mùa Lồng tồng năm ấy không chỉ là một kỷ niệm đẹp của tuổi thơ, mà còn là hạt mầm gieo vào lòng em tình yêu quê hương, để dù sau này có đi xa đến đâu, em vẫn luôn nhớ về nơi mình đã lớn lên từ những mùa xuân như thế.
Dương Phương Hoa
Bến cũ
Con sông quê lặng lẽ chảy qua những mùa mưa nắng,
nước không hỏi vì sao bờ bãi đổi thay.
Chỉ có lũ trẻ ngày xưa
đã kịp lớn lên giữa những lần đò chòng chành.
Có người rời làng đi xa,
mang theo mùi khói rơm còn vương trên tóc.
Có người ở lại,
đếm từng mùa lúa chín bằng ánh mắt hiền như đất.
Tôi trở về,
đứng trước khoảng sân đầy nắng,
nghe tiếng gà chiều gọi gió
mà tưởng như gọi lại một thời đã cũ.
Quê hương không trách ta những lần lỡ hẹn,
chỉ mở rộng vòng tay bằng màu trời xanh thẳm.
Và sau bao nhiêu bão giông của đời người,
nơi ấy vẫn là chỗ để ta tin mà tìm về.
Trần Hải Đăng
Ngày hôm nay đã muộn
Hồi con sinh ra, con có hai người mẹ
ánh mặt trời đầu tiên sưởi ấm con
giọt ngọc rơi trên cánh tay run của người,
và bầu trời rộng
mặt trời ấy sinh ra
một bầu trời hoàng hôn nảy mầm bao khôn lớn.
Con tập bước đi đến trước những tiếng cười rôm rả
"úi chà, cháu của bà giỏi quá!”
con trốn vào đời bằng tiếng chợ búa vồn vã,
bàn tay của bà, những cung đường hè oi ả gần xa.
Hồi con còn bé, con thật lòng hiếu kỳ
luôn hỏi bà cách để lên trời cao
hái vì sao, hái những ước mơ nhỏ
một ngày nào sẽ lên cung trăng sống;
hay những lời thì thào ban trưa,
bà ru con ngủ bằng tiếng gà trống gáy
giọt mồ hôi mằn mặn lòng yêu thương
tình yêu bà con giờ lại bỗng thấy.
Hồi con lớn, mang theo những hoài bão khi xưa
bà phải đằng sau mà âm thầm hy vọng,
bầu trời của con cũng sợ bóng tối kéo về
bầu trời của con cũng sợ tấm hình chụp vội
người ta quên đám mây cũng biết khóc
và tất cả cuốn trôi theo khơi dòng
bàn tay con níu lại bầu trời trong mong manh.
Hồi bà còn sống,
con nào biết đến những nỗi đau
có chăng bà đã đuổi chúng đi hết rồi?
Hồi bà còn sống,
con chỉ là một đứa trẻ nông nổi
còn chưa biết cách nói câu yêu thương...
Hồi bà còn sống,
con đứng chôn chân và chỉ biết im lặng
liệu phải mất đi một điều gì quan trọng,
thì người ta mới trở thành người lớn?








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin