Mưu sinh từ củ chuối rừng

Hải Đăng 08:42, 15/01/2026

Giữa đại ngàn xanh của vùng núi phía Bắc, nơi những cánh rừng nguyên sinh vẫn còn bạt ngàn, thiên nhiên không chỉ ban tặng cảnh sắc hùng vĩ mà còn nuôi dưỡng sinh kế cho bao thế hệ người dân bản địa. Ở xóm Nà Kiêng, xã Ba Bể, giữa mênh mang núi rừng ấy, gia đình chị Dương Thị Vượng đã gắn bó suốt ba đời với một nghề mộc mạc mà bền bỉ: Làm bánh chuối từ củ chuối rừng.

Chị Dương Thị Vượng bán bánh chuối cho khách du lịch tham quan  
hồ Ba Bể.
Chị Dương Thị Vượng bán bánh chuối cho khách du lịch tham quan hồ Ba Bể.

Ba Bể vốn nổi tiếng với hồ nước ngọt trên núi, với rừng già trập trùng và hệ sinh thái phong phú. Trong những cánh rừng ấy, chuối rừng mọc tự nhiên, thân cao, lá rộng, rễ bám sâu vào đất. Khác với chuối trồng nơi nương rẫy, chuối rừng cho củ chắc, ít xơ, vị bùi đặc trưng, nguyên liệu quý để làm nên món bánh chuối dân dã mà đậm hồn núi.

Theo lời chị Vượng, nghề làm bánh chuối đã theo gia đình chị từ thời ông bà. Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều khó khăn, ruộng ít, nương không nhiều, người dân phải dựa vào rừng để tồn tại. Củ chuối rừng, thứ tưởng chừng bỏ đi, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ vùng cao đã trở thành món bánh nuôi sống cả gia đình.

“Từ nhỏ tôi đã theo mẹ lên rừng đào củ chuối, về phụ rửa, thái, phơi. Lớn lên thì nối nghề, giờ đến lượt tôi truyền lại cho các con” - chị Vượng chia sẻ.

Làm bánh chuối không hề đơn giản, càng không phải là nghề “ăn xổi”. Trước hết, người làm bánh phải lên rừng chọn những cây chuối già, củ to, chắc. Đào củ chuối là công đoạn vất vả, đòi hỏi sức khỏe và kinh nghiệm để không làm hỏng củ cũng như hạn chế ảnh hưởng đến cây non xung quanh.

Củ chuối mang về được rửa sạch đất cát, thái mỏng rồi đem phơi khô dưới nắng tự nhiên. Có khi phải phơi vài ngày liền, gặp hôm mưa gió lại phải hong bếp cho khô đều.

Khi làm bánh, củ chuối khô được luộc nhừ bằng nước gio - thứ nước tro được lọc từ tro bếp, tạo độ dẻo và màu nâu sẫm đặc trưng cho bánh. Sau khi luộc, người làm bánh bóp kỹ để lấy phần bã mềm, rồi nấu cùng mật mía cho dậy mùi thơm, sau đó đem giã nhuyễn. Nhân bánh thường làm từ đậu xanh hoặc lạc đồ chín, trộn đường, tạo vị bùi béo, ngọt dịu. Tất cả hòa quyện, gói trong lá chuối rừng, buộc lạt tre, rồi đem hấp chín.

Theo chị Vượng, để bánh chuối ngon, yếu tố quan trọng nhất vẫn là gạo nếp. Gạo càng ngon, bánh càng dẻo, càng để lâu càng thơm. Vì thế, gia đình chị luôn chọn loại nếp địa phương, hạt mẩy, thơm tự nhiên. “Bánh chuối không cần cầu kỳ, nhưng phải thật thà từ nguyên liệu đến cách làm” - chị nói.

Mỗi chiếc bánh chuối hiện được bán với giá từ 5.000 đến 7.000 đồng, tùy kích cỡ. Trung bình mỗi ngày, chị Vượng bán được từ 50 -100 chiếc. Vào mùa du lịch, khi khách thập phương đổ về tham quan hồ Ba Bể, bánh làm ra không đủ bán. Du khách thích thú với món quà quê mộc mạc, vừa ngon miệng vừa mang hương vị rừng núi.

Ngày thường, việc bán bánh “túc tắc” hơn, nhưng vẫn đều đặn, đủ để trang trải sinh hoạt gia đình. Tính trung bình, thu nhập từ nghề làm bánh của gia đình chị đạt khoảng 7-10 triệu đồng mỗi tháng, con số không lớn ở đô thị, nhưng là nguồn sống quan trọng đối với người dân vùng cao.

Không chỉ làm bánh chuối, gia đình chị Vượng còn duy trì nhiều loại bánh truyền thống khác như bánh cơm lam, bánh gấc, bánh gai, bánh ngải cứu. Mỗi loại bánh là một lát cắt văn hóa, phản ánh tập quán canh tác, sinh hoạt và ẩm thực của đồng bào nơi đây. Những mẻ bánh ra lò không chỉ mang lại thu nhập mà còn giữ gìn hương vị quê hương giữa nhịp sống đổi thay.