Cuộc hội ngộ giữa hai chiều sinh tử

Sa Mộc 07:51, 30/04/2026

Tháng Tư về, mang theo dư âm của những khúc tráng ca chưa bao giờ tắt. Trong dòng ký ức ấy, tôi được tham dự những cuộc gặp gỡ của các cựu lính Trường Sơn ở Thái Nguyên. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, tôi được ông Nguyễn Mạnh Thắng, Phó Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn đường Hồ Chí Minh tỉnh Thái Nguyên, kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ của hai anh em ruột giữa hai dòng người đi ngược chiều sinh tử.

Niềm vui hội ngộ của ông Thắng (bên phải ảnh) và 2 anh em ông Tiệp (giữa ảnh) - Hiệp.
Niềm vui hội ngộ của ông Thắng (bên phải) và 2 anh em ông Tiệp (giữa) - Hiệp.

 "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"

Vậy là cuộc gặp gỡ của ba người lính già trong câu chuyện năm xưa lần này có thêm tôi. Hơn 5 giờ sáng, khi sương sớm còn bảng lảng trên những đồi chè, chúng tôi khởi hành. Khác với vẻ điềm tĩnh thường ngày của một cán bộ Hội, ông Thắng hôm nay bồn chồn lạ thường.

Ông cứ nhìn đăm đăm ra cửa sổ, nơi những dải lụa đường nhựa đang lùi dần phía sau, rồi lại sốt sắng nhắc người cháu lái xe về các điểm rẽ, dẫu trên tay anh đã có sẵn bản đồ số hiện đại. Có lẽ, với ông, con đường tìm về đồng đội luôn được dẫn lối bằng một loại định vị đặc biệt của trái tim.

Sự nôn nóng ấy càng được "tiếp lửa" bởi những cuộc gọi liên hồi từ đầu dây bên kia. Ông Tiệp (hiện đang sống tại Phú Xuyên, Hà Nội) - người đồng đội cùng hành quân vượt Trường Sơn năm xưa đang ngóng đợi từng phút. Vừa chạm cửa ngõ, chúng tôi đã thấy ông Tiệp đứng chờ sẵn.

Tay bắt mặt mừng, những lời hỏi thăm sức khỏe, gia đình chân thành và mộc mạc như bản tính của người lính.  Cái tình của người lính Trường Sơn sau nửa thế kỷ vẫn xanh như màu áo họ từng mặc, kết nối những con người ở hai vùng đất khác nhau thành một gia đình lớn.

Trong thùng quà ông Thắng mang từ Thái Nguyên xuống, có thuốc bổ, có trà đặc sản và cả những gói miến quê hương Đồng Hỷ. Quà giản dị nhưng gói ghém tất cả sự trân trọng của người em dành cho người anh, người chị đang hồi phục sau bạo bệnh.

Và rồi, sự xuất hiện của ông Nguyễn Bá Hiệp, em trai ông Tiệp, đã mở toang cánh cửa ký ức, đưa chúng tôi ngược dòng thời gian về lại những năm tháng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".

Trở lại những năm 1970, khi cuộc chiến bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Ông Thắng và ông Tiệp khi ấy là những chàng trai mươi tuổi, vác trên vai cả tuổi thanh xuân và vận mệnh dân tộc. Gian khổ của lính Trường Sơn hiện lên qua từng chi tiết bóp nghẹt trái tim. Mỗi người vác trên vai 7kg gạo, lương khô, ruốc mặn, 4 băng đạn AK và thêm 2 quả lựu đạn.

Mang nặng không quen, nhiều người phải bỏ chăn chiên, áo khoác dọc đường. Đường đi vô vàn hiểm trở, phải vượt dốc dựng đứng, bắc giáo trèo núi đá, đầu người đi sau húc vào đáy ba lô người đi trước.

Xuống dốc thì chân thò ra khỏi dép cao su đến nửa bàn. Giày đi phải đục lỗ ở mũi để thoát nước. Sau 2 tháng, gõ vào lòng bàn chân phát ra tiếng kêu bộp bộp như gõ vỏ bánh mỳ. Lại có những đoạn phải ngả cây làm cầu nối, buộc dây mây làm tay vịn.

Càng vào sâu, lương thực cạn dần anh em phải ăn lá rừng cầm hơi, nhường nhau từng con cua đá bắt được ven suối để chống lại cơn sốt rét và chứng bại liệt do thiếu chất. Khó khăn là thế, nhưng dọc đường hành quân không thiếu những tiếng cười.

Ông Thắng và đồng đội ai cũng muốn đi gần ông Tiệp để nghe kể chuyện văn học, từ Tam quốc diễn nghĩa đến Mùa hoa dẻ, để quên đi sức nặng của ba lô và sự hiểm nguy của những đêm hành quân bí mật.

Đêm chạy bộ băng rừng và 15 phút đoàn viên

Ông Thắng (bên phải ảnh) và ông Tiệp cùng nhau ôn lại thời kỳ quân ngũ qua những bức ảnh cũ.
Ông Thắng (bên phải) và ông Tiệp cùng nhau ôn lại thời kỳ quân ngũ qua những bức ảnh cũ.

Nhưng câu chuyện khiến người nghe nghẹn lại lại là khoảnh khắc hội ngộ của hai anh em ông Tiệp, ông Hiệp giữa hai chiều sinh tử. Năm 1967, ông Hiệp vừa tròn 20 tuổi đã theo đơn vị vào miền Nam và trải qua 5 tháng hành quân bộ. Ông Tiệp nhập ngũ trước nhưng làm nhiệm vụ ở miền Bắc.

Đến năm 1971, do sức ép của bom, ông Hiệp được điều động trở ra miền Bắc, trong khi ông Tiệp lại cùng đồng đội tiến vào Nam. Mang theo lời dặn của người anh cả, ông Tiệp tâm niệm sẽ tìm em trai. Dẫu biết biển người mênh mông như “mò kim đáy biển”, đến trạm giao liên nào hay gặp thương bệnh binh, ông cũng hỏi thăm tin tức chú Hiệp.

Rồi phép mầu đã đến. Tại Binh trạm 37 (gần Sông Bạc, tỉnh Át-tô-pư - Lào), giữa trạm 77 và 78, chỉ huy cho dừng nghỉ 10 phút. Lúc sắp hết giờ giải lao, trong đoàn quân ngược ra Bắc, ông Tiệp nhìn thấy một dáng hình quen thuộc.

Hai anh em cuống cuồng ôm lấy nhau. Giữa rừng Trường Sơn, tiếng gọi “Ơ anh Tiệp!”, “Ơ Hiệp!” vang lên. Người anh cứ lặp đi lặp lại: “Em tôi đây mà”, còn người em nức nở: “Em đây mà”.

Nhìn cảnh tượng ấy, ông Thắng vội chạy lên đầu hàng, báo cáo chỉ huy xin cho đoàn nghỉ thêm 15 phút. Khẩu lệnh “nghỉ thêm 15 phút” được truyền đi bằng tất cả sự thấu cảm của tình đồng chí. Họ chẳng kịp nói nhiều, chỉ kịp trao đổi chiếc tăng, chiếc võng, cái nặng em mang ra, cái nhẹ anh mang vào.

Gần chiều tối, đơn vị đến trạm 78. Lòng ông Tiệp trĩu nặng ngổn ngang. Bố ở nhà đã qua đời, nhưng lúc trưa gặp vội, ông đành nói dối em là cụ vẫn khỏe. Lo sợ bước vào chiến trường không biết có ngày trở về để anh em gặp lại, ông xin tiểu đoàn trưởng cho quay lại trạm ngoài gặp em thêm lần nữa. Chỉ huy đồng ý nhưng yêu cầu phải có người đi cùng. Lập tức, ông Thắng xung phong: “Để em đi cùng với anh”.

Khoác khẩu AK, cầm suất cơm nắm ăn dở, một bi đông nước và chiếc đèn pin mượn tạm, hai người lính lao vào màn đêm. Để kịp quay về trước giờ đơn vị hành quân, họ chỉ có thể vừa đi vừa chạy. Cứ đến ngã rẽ, ông Thắng lại chặt cành cây dấp vào làm dấu. Đèn pin phải dùng lá cuốn quanh để ánh sáng không tán rộng, nhằm giữ bí mật.

Đến trạm ngoài khi đêm đã muộn, ông Tiệp đi lần từng chiếc võng trong bóng tối, mãi đến cuối hàng mới tìm đúng chú Hiệp. Hai anh em chỉ có thêm 15 phút ngắn ngủi. Người anh dúi vào tay em 14 đồng tiền Bắc chưa tiêu hết để đi đường mua nước. Chào nhau xong, họ lại hối hả quay đi.

Nhờ gặp hai đồng chí thông tin dẫn đường, họ trở về nhanh hơn và không sợ lạc. Về đến bờ suối đã 2 giờ sáng. Hai ngày dài và một đêm không ngủ, họ lại tiếp tục vác ba lô lên vai, bước tiếp cuộc trường chinh vĩ đại.

Câu chuyện của ba người lính già  ấm áp, thân tình như những người ruột thịt. Tôi cẩn thận nâng máy ảnh, đề nghị mọi người chụp một tấm lưu giữ khoảnh khắc này, khoảnh khắc vô giá của tình thân, tình đồng chí, của những người đã thêm dáng hình mình vào dáng đứng dãy Trường Sơn.