Chiến tranh: BÊN NGOÀI THIỆN - ÁC

NGUYỄN THANH TÂM 08:27, 05/05/2026

     Con người vốn là một sinh vật yếu ớt. Nhưng, tại sao con người lại có thể vượt lên làm chủ trái đất? Nhiều ý kiến đã chỉ ra rằng, chính sức mạnh của ý chí, tinh thần, sự gắn kết thành các cộng đồng, những niềm tin vô hình cùng sự sáng tạo mãnh liệt đã đưa con người vượt xa các chủng loài khác để trở thành bộ phận mạnh mẽ nhất trên hành tinh.

Thanh niên xung phong tải đạn trong kháng chiến chống Mỹ - Ảnh: Tư liệu
Thanh niên xung phong tải đạn trong kháng chiến chống Mỹ - Ảnh: Tư liệu

     Chiến tranh là một biến cố mà sự bạo tàn, khủng khiếp của nó dễ làm người ta đặt ra giả thiết: Giá đừng có chiến tranh thì tốt hơn. Nhưng, Will và Ariel Durant trong cuốn Bài học của lịch sử hẳn phải có một căn cứ nào đó khi xác quyết: “3421 năm gần đây chỉ có 268 năm không có chiến tranh”. Thời gian không có chiến tranh quá ít ỏi, đến mức chúng ta có thể nói rằng chưa bao giờ nhân loại thực sự bước ra khỏi cuộc chiến. Ở một góc nhìn rộng rãi hơn, chiến tranh, giành giật, săn đuổi lẫn nhau… vốn dĩ là câu chuyện tự nhiên giữa các giống loài (chí ít là trong chuỗi thức ăn), trong hành trình sinh tồn của mình. Con người, với những thành tựu văn minh, với những thiết chế văn hóa đặc thù, đã đẩy bản chất sinh học, tự nhiên thành những thảm họa hủy diệt chính đồng loại của mình, mà ta gọi là chiến tranh.

     Có kẻ gây chiến, đương nhiên, có kẻ phải chống trả, để bảo toàn sự sinh tồn. Đó cũng là quy luật của tự nhiên. Nhưng, trong mắt con người, tự nhiên không bao giờ là chính nó. Tự nhiên luôn được nhào nặn theo cái nhìn, quan niệm,– mục đích của con người. Chính vì thế, trong diễn ngôn chiến tranh, ta thường bắt gặp khái niệm chính nghĩa, phi nghĩa, kẻ thù xâm lược hay cộng đồng quốc gia chống xâm lược, cùng các phân định mục đích khác như bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ… Tất cả những điều này, trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã luôn được kiến tạo để hợp thức hóa các cuộc chiến, theo ý thức hệ của các bên tham chiến. Dẫu vậy, trong thực tế, nhân loại không thể phủ nhận sự nguy hiểm, tàn bạo, phi nhân của chiến tranh.

     Ấy vậy, từ góc nhìn về sức mạnh của con người trong hành trình sinh tồn trước các chủng loài mạnh mẽ khác trên trái đất, từ chính sự đe dọa của con người với nhau, từ thực tiễn chiến tranh trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ta lại nhận ra, chiến tranh quả thực đã trở thành một môi trường, nơi ý chí, tinh thần, sức mạnh con người được tôi luyện một cách mãnh liệt. Mục đích đầu tiên, căn bản nhất, bất chấp sự bạo tàn, có lẽ chính là tạo nên sức mạnh sinh tồn cho con người trong sự đe dọa hủy diệt từ chiến tranh. Ý nghĩ này có thể mở ra các khả năng đối thoại, đặt lại cái nhìn, chất vấn những quan điểm thiếu khách quan, thiếu nhãn quan lịch sử cụ thể khi cho rằng văn học viết về chiến tranh, nhất là văn học sử thi cách mạng 1945 - 1975 đã giản lược hóa con người, giản lược hóa nghệ thuật.

     Lịch sử Việt Nam có thể xem là lịch sử của chiến tranh. Trong thời hiện đại, cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc là những sự kiện vĩ đại, không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam mà còn là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, trước sự xâm lăng của các thế lực ngoại bang, hòng thôn tính, thống trị Việt Nam. Sự khốc liệt của những cuộc chiến đã được lịch sử, văn chương ghi lại, nhưng rõ ràng, trong sự khốc liệt, đau thương không mong muốn ấy, ý chí, sức mạnh, tinh thần đoàn kết, niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, vào tương lai hòa bình của dân tộc cũng được kích hoạt, nuôi dưỡng và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thử nhìn lại, di sản văn học sử thi cách mạng Việt Nam (1945 - 1975), phần nổi bật nhất chính là việc thể hiện sức mạnh ý chí, niềm tin tất thắng, tinh thần vượt qua gian khổ khắc nghiệt của chiến tranh để sống, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Đó không phải là sự đơn giản hóa, lược giản hóa hình tượng con người, mà sự thực, văn chương đã tìm thấy điểm mấu chốt để khám phá, phô bày phẩm chất con người trong thử thách sinh tử: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà không mặc kệ gió lung lay/ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính (Đồng chí - Chính Hữu); Đằng nớ vợ chưa? Đằng nớ?/ Tớ còn chờ độc lập (Nhớ - Hồng Nguyên); Đã có đất này chép tội/ Chúng ta không biết nguôi hờn/…/ Vì nắng sắp lên rồi/ Chân trời đã tỏ/ Sông Đuống cuồn cuộn trôi/ Để nó cuốn phăng ra bể/ Bao nhiêu đồn giặc tơi bời/ Bao nhiêu nước mắt/ Bao nhiêu mồ hôi/ Bao nhiêu bóng tối/ Bao nhiêu nỗi đời (Bên kia sông Đuống –- Hoàng Cầm)… Con người trong chiến tranh cũng giống như kẻ bị đẩy đến đường cùng. Trước sự đe dọa bị hủy diệt, họ chỉ còn một lựa chọn – lựa chọn duy nhất, không đắn đo suy tính, đó là làm thế nào để sống? Vậy thì, cái cách họ vùng dậy, đứng lên, tự biến mình thành sắt thép, thành vũ khí, chống lại kẻ thù đâu có thể cắt nghĩa một cách đơn giản được. Có những lựa chọn, ta không hề mong muốn. Có những lựa chọn kèm theo nhiều từ bỏ. Có những lựa chọn là duy nhất. Bởi thế, nhìn về con người Việt Nam trong chiến tranh, ở tọa độ khủng khiếp nhất của cuộc chiến, ta không thể và không đủ trải nghiệm để phẩm bình, phán xét về lựa chọn của họ. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng có một ý rất hay rằng: Làm sao có thể nói về bến bờ đối với những người chưa từng trôi dạt. Vậy đấy, cứ hãy đặt mình vào thử thách sinh tử, để lựa chọn, bản năng sinh tồn sẽ lên tiếng, kêu gọi sức mạnh cơ bắp, sức mạnh tinh thần cho một hành động mà có thể sau tất cả, ta chẳng thể nào giải thích cho tường tận, vì sao mình đã làm như vậy.

<br>
 

     Điều gì đã lý giải cho những câu trong trường ca Mặt đường khát vọng này: Năm tháng nào cũng người người lớp lớp/ Con gái con trai bằng tuổi chúng ta/ Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)? Điều gì lý giải cho dáng đứng hiên ngang, kiêu hãnh của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhứt: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên, tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng/…/ Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (Lê Anh Xuân)? Điều gì lý giải cho hàng triệu người con nước Việt băng mình vào lửa đạn, nhận lấy cái chết như một niềm kiêu hãnh, một sự dâng hiến, một đánh đổi không hề toan tính? Văn chương thời chiến đã khắc họa những hành động quyết liệt ấy và nâng lên thành nguồn cảm hứng cho con người, thời đại. Lý tưởng cách mạng, chân lý của lương tri lẽ phải, cái giá của hòa bình… có thể là những câu trả lời hợp lý, nhưng nghĩ tận cùng, đó phải là khát vọng được sống của con người trước nguy cơ bị hủy diệt, trước nguy cơ bị tước đoạt các quyền sống, giá trị sống bởi chiến tranh. Vì thế mà con người Việt Nam, vốn nhỏ bé, và dĩ nhiên cũng yếu ớt về thể trạng, bỗng biến thành anh hùng, thành dũng sĩ, thành những huyền thoại khiến các thế lực ngoại xâm hùng mạnh phải khiếp sợ. Câu chuyện Thánh Gióng, từ một cậu bé bỗng vươn vai thành người khổng lồ chẳng phải là một lời giải thích giản dị mà minh triết của dân gian về điều đó hay sao?

     Có nhiều lý do để giải thích cho sức mạnh của con người Việt Nam trong chiến tranh. Chiến tranh là bất thường, vậy nên, sự hiện diện của cái phi thường, lại cũng là lẽ thường. Giờ đây, trong trạng thái nhàn nhã, yên bình, vô sự của thời hậu chiến, người ta quên đi hiểm nguy của chiến tranh, quên đi nanh vuốt của vực thẳm, và thế là, họ chất vấn con người và văn chương thời chiến, rằng mọi thứ đã bị gồng lên, bị lên gân một cách quá mức, làm méo mó sai lệch hoặc nghèo nàn giản lược hình tượng con người cũng như bản chất thực sự của nghệ thuật văn chương. Đó lại cũng là một lẽ thường khác của đời thường. Nhưng, khi nhìn về di sản văn học sử thi thời chiến 1945 - 1975 và tiếp tục kéo dài sau 1975, có lẽ cần sự thận trọng và cái nhìn thỏa đáng hơn cho những hiện diện của lịch sử. Sau tất cả, sự phê phán chiến tranh là cần thiết. Nhưng, như vấn đề đã được đặt ra từ đầu bài viết, trong những thử thách khắc nghiệt nhất, ý chí, sức mạnh của con người được tôi luyện, nhờ thế, họ sống sót qua các thảm họa. Mọi thứ, xét cho cùng đều đến sau cái lẽ sinh tồn bản nguyên, bên ngoài thiện ác ấy.


Từ khóa:

Chiến tranh

thiện

ác