Ngọc Tuấn không phải là người cầm bút sớm. Nay đã gần tuổi tám mươi nhưng đến tận những năm đầu của thế kỷ XXI độc giả mới thấy cái tên Ngọc Tuấn xuất hiện đều đều trên các báo chí địa phương và Trung ương.
Có thể do những năm tháng cầm súng gian truân, căng thẳng ở chiến trường, rồi cuộc sống bươn chải vất vả trong mưu sinh của đời thường, năng khiếu văn chương của anh tạm thời chìm khuất, và cũng có thể từ những gian nan, chìm nổi trong cuộc sống mà tâm hồn anh trở nên gần gũi, nở hoa kết trái với văn chương.
Nhưng dù thế nào thì khoảng hơn hai thập kỷ qua bạn đọc đã có một Ngọc Tuấn - nhà thơ, với những tác phẩm đã để lại trong lòng độc giả một niềm tin yêu nồng ấm.
![]() |
| Nhà thơ Ngọc Tuấn. |
Ngọc Tuấn viết nhiều thể thơ, nhưng theo tôi anh có duyên và cũng có nhiều thành công nhất ở thể lục bát, một thể thơ mà nhiều nhà thơ phải thừa nhận dễ viết nhưng khó hay. Tính trong cả nước, những người viết thể thơ này được nhiều độc giả yêu mến, đón nhận chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Ở địa phương cũng chỉ khoảng vài, ba người.
Hơn hai mươi năm cầm bút, tính riêng về thơ lục bát Ngọc Tuấn đã sáng tác khoảng ngót nghìn bài, trong đó có nhiều bài hay, sâu sắc, nhưng do đất trên các báo, tạp chí có hạn nên khá nhiều bài chỉ được giới thiệu trên các mạng xã hội hoặc lặng lẽ trên sổ tay. Với sức viết như vậy, có thể xếp anh đứng hàng đầu về số lượng bài trong các nhà thơ ở địa phương Thái Nguyên.
Nói về thơ Ngọc Tuấn, dù chỉ riêng về thể lục bát chắc chắn cũng sẽ là một câu chuyện dài, vì vậy, để giới hạn lại, trong một bài viết ngắn này tôi chỉ có thể nói duy nhất về một vài đặc điểm của thơ anh. Nhưng có lẽ đó là những đặc điểm mang tính phổ quát nhất, bao trùm nhất về thơ lục bát của Ngọc Tuấn.
Điểm nổi bật ấy trước hết là lối viết ngắn gọn, gợi cảm xúc, nó đối lập với kiểu giãi bày, kể lể dài dòng của một số tác giả lục bát khác do ảnh hưởng của thơ Phương Đông. Tất nhiên nói vậy không có ý cho rằng thơ kể lể, giãi bày đều yếu kém. Đã từng có những nhà thơ thích kể lể, giãi bày nhưng rất hay như Nguyễn Bính, Thanh Tịnh… Nhưng không ai có thể phủ nhận, gợi cảm xúc thường mới là thơ sâu sắc, mới hiện đại…
Nói thơ gợi cảm xúc cũng có nghĩa đó là loại thơ khó có thể phân tích rành rẽ bằng luận lí mà phải tiếp nhận, xuyên thấm bằng cách dựa vào sự tưởng tượng, phải thưởng thức bằng tâm, bằng thần (như cách thưởng thức mà Lê Quý Đôn đã quan niệm).
Tôi nghĩ, thơ Ngọc Tuấn không "phản ánh hiện thực" mà "gõ cửa" tâm hồn, khai mở những gì từng tồn tại trong chính người đọc. Bởi vậy, những ai không/ít có khả năng tưởng tượng thường khó thấu hiểu. Lối viết như thế rất cần sự đồng sáng tạo của độc giả.
Một trong những cảm xúc trong thơ Ngọc Tuấn là sự hoài niệm, hoài niệm về nỗi buồn và sự mất mát…
Đọc vài trăm bài lục bát của Ngọc Tuấn ta thấy hầu hết là những nỗi đau đớn, mất mát, xót xa, nuối tiếc. Trong thơ lục bát của anh rất hiếm gặp những bài nói về niềm vui, mà vui đi chăng nữa thì vẫn là một niềm vui thấp thoáng nỗi buồn, là nụ cười xen lẫn tiếng thở dài kín đáo. Đó chính là giá trị cơ bản, đồng thời cũng là thế mạnh của thơ Ngọc Tuấn.
Tất nhiên cũng cần nói thêm, nỗi buồn trong văn chương phải là nỗi buồn thanh sáng chứ không phải là sự lụi tàn, nói đúng hơn nó là vẻ đẹp thẩm mĩ về nỗi buồn.
Thơ Ngọc Tuấn, theo tôi, đã ít nhiều thành công về mặt này. Ngọc Tuấn đã làm nên những áng thơ khó quên về những nỗi buồn như thế:
Chỉ còn một chút nắng thôi
Để rồi tay trắng về ngồi với đêm
Cuối chiều rơi bụi nắng êm
Gom cho em để làm duyên má hồng
Khói hoang lên mắt cay nồng
Nhòe từng giọt nắng chìm trong cuối trời
Mai này ai khóc thương tôi
Chi bằng gửi một nụ cười hôm nay.
(Nhỏ nhoi)
Chỉ là một giọt nắng cuối cùng của mùa thu mà tác giả đã gợi cho người đọc về nỗi li biệt của kiếp người:
Hanh hao một giọt nắng vàng
Người đi bỏ lại bên hàng cúc tươi
Phải đâu giọt nắng của trời
Người đi gửi lại nụ cười buồn tênh.
(Giọt nắng buồn)
Nỗi buồn về sự cô đơn là một trong những mạch chính trong thơ Ngọc Tuấn. Một chút "nắng lạc", một "cánh chim trời lẻ bóng", một làn "khói trong sương mờ" xa xôi nào đó cũng động đến tâm can kẻ cô đơn, để rồi day dứt, ngẩn ngơ trong vô vọng:
Nắng như đi lạc giữa chiều
Chim trời một bóng cánh diều ngẩn ngơ:
Bếp ai thơm khói sương mờ
Người thì xa lắc bây giờ còn tôi.
(Chiều nắng lạc)
Suốt chiều dài lục bát của Ngọc Tuấn ta rất hay gặp những cảm thức chia li như vậy. Và đây nữa:
Lụa mềm yếm giặt đục trong
Người đi
Đá thức đêm trăng cỏ nhàu
Bên ghềnh ai giặt nỗi đau
Em đi
Mang cả
Nông sâu đôi dòng
(Áo trăng)
Hoặc:
Gói mùa trong gió vô tình
Gói mưa đầy một bóng hình xa xôi
Mắt chìm theo tiếng mưa rơi
Con đường một bóng một người gió xiêu.
(Còn ai níu hạt mưa vương)
Thơ Ngọc Tuấn được sự đón nhận của độc giả, theo tôi, chính là ở những bài thơ nói về những nỗi buồn thanh sáng như thế.
Đọc thơ Ngọc Tuấn, những độc giả chỉ quen với lối thưởng thức bằng nội dung - những nội dung về tình cảm quê hương, đất nước, tình gia đình, tình yêu lao động, tình yêu thiên nhiên… chẳng hạn thì thường dễ thất vọng. Rải rác trong đời cầm bút, không phải anh không có những bài thơ như thế nhưng không nhiều và cũng không phải là thế mạnh của thơ anh.
Như ở trên đã nói, Ngọc Tuấn không "phản ánh hiện thực" đơn thuần mà "gõ cửa" tâm hồn con người. Có lẽ vì vậy mà thơ anh thường xuất hiện những ảo ảnh, những thi ảnh nửa thực, nửa mơ… Có thể ví thơ anh như những làn gió thấp thoáng trong trời đất, có đấy mà mơ hồ, hun hút xa xăm…
Chỉ với một trò chơi tập tầm vông của tuổi ấu thơ mà ai cũng từng biết, từng chơi, nhưng với Ngọc Tuấn thì đã trở thành kí ức của "tay tôi, bóng nàng", của "ngổn ngang phận người", của "bong nóng vỡ ngày mưa", để rồi:
Mưa từng giọt đắng vỡ tan
Ai cầm chân được thế gian vô tình
Đâu rồi cái thuở lung linh
Còn tôi nhặt nắng một mình chốn xưa
Tay không tay có... nối mùa
Hoa bong bóng vỡ ngày mưa tím trời ..
(Tập tầm vông)
"Hoa bóng bóng vỡ ngày mưa tím trời" là một ảo ảnh của một thời và có thể lan tỏa suốt một đời người.
Cũng như nhiều nhà thơ, Ngọc Tuấn viết nhiều về tình yêu trai gái. Nhưng thường là những mối tình không viên mãn, là những mối tình nhiều mất mát, dở dang và đầy nuối tiếc, nói chính xác hơn là sự thất tình. Cái đặc sắc của lục bát Ngọc Tuấn là không kể, không tả mà luôn gợi về những kí ức, những hoài niệm xa xăm nào đó về một bóng mây trôi, một ánh trăng huyền ảo, một màu áo nâu nơi quê nhà hoặc một vườn khế rụng trong ngày mưa buồn với những lưu luyến nhè nhẹ nhưng khó phôi pha:
Gió giông trăng vỡ bến đình
Xác xao ngâu giọt mùa tình khóc xưa
Góc vườn khế rụng ngày mưa
Nửa ngọt thì vỡ nửa chua thì còn.
(Khế rụng vườn xưa)
Cái nuối tiếc mang màu sắc thẩm mĩ ấy thường "đeo bám" theo anh ở nhiều bài thơ, câu thơ. Khi thì mờ ảo sau một trò chơi từ thuở ấu thơ đã trôi vào dĩ vãng: "Tập tầm vông thuở xa xôi/Tay không tay có biết người đa đoan" (Tập tầm vông), khi thì hoài tưởng về một thời tuổi trẻ "Lá rơi về thuở đôi mươi/ Vớt trăng tát cạn một trời tìm nhau" (Lá tìm về chốn bắt đầu để xanh). Lúc thì ẩn khuất trong một không gian phố cũ vô hình, vô ảnh nào đó:
- Hỏi phố
Thì phố lặng yên
Hỏi hàng cây có nhớ tên một người
- Lối này
phố cũ
phải không
Hình như còn ánh mắt trông một người.
(Lối này phố cũ phải không)
Tình yêu và hoài niệm thường như một cặp bài trùng. Tình yêu càng cô đơn càng sinh ra hoài niệm. Ta có thể dễ dàng nhặt trong thơ anh những bài thơ, câu thơ, những thi ảnh như vậy:
- Mình ơi
Ta lại ngày xưa
Mặn mòi tìm thuở sớm trưa ấm lòng
Mình ơi
Một giấc mơ không
Đôi điều giản dị mãi đong chẳng đầy
(Mình ơi)
- Mây
Hay là tóc xưa bay
Bay đi tìm lại những ngày.. rất xa
(Một mùa tóc chanh)
- Phải em
Giữ lại nắng chiều
Để mưa đêm kể những điều xa xôi
(Mưa cỏ)
Một đặc điểm nổi bật nữa trong thơ tình Ngọc Tuấn là thường kín đáo, là kiểu tình yêu truyền thống, lấy gió, lấy mưa để nói hộ lòng người. Chỉ một chút "mưa chạm vai", "tay nỡ chạm tay" mà lòng dạ đã rối bời:
Gió mùa
Đâu một mình em
mà sao mưa chạm vai mềm lại bay
Gió mùa
Lành lạnh rụng cây
Để tay ai nỡ chạm tay rối bời
Gió mùa
Từng giọt xa xôi
Gió mùa hôm ấy… cùng tôi nói gì
(Gió mùa hôm ấy nói gì)
Tuy nhiên, vào thời hiện đại, cũng giống như một số nhà thơ khác, có lẽ Ngọc Tuấn cũng muốn thử nghiệm trong việc viết những bài thơ mang tính chất sexy. Nhưng ta cũng chỉ gặp trường hợp này duy nhất một lần. Đó là bài thơ "Trú mưa":
Bảo chẳng nhìn cứ muốn trông
Áo em trắng bỗng hóa hồng trong mưa
Cứ ngập ngừng muốn hỏi thưa
Ngập ngừng chưa hết cơn mưa tan rồi
Em đường em, tôi đường tôi
Trú mưa nhớ mãi nốt ruồi áo em.
(Trú mưa)
Nhưng ngay ở bài thơ này thì sự kín đáo dường như vẫn được đề cao. Bài thơ nói về da thịt của cô gái mà lại chẳng có từ nào nói về da thịt. Trời mưa ướt sướt mướt nên "Áo em trắng mới hóa hồng trong mưa", thì đó là màu của da thịt chứ đâu phái màu của áo.
Rồi, “Trú mưa nhớ mãi nốt ruồi áo em”, cũng là cái nốt ruồi của da thịt em chứ đâu phải của áo em. Lối viết này như là tả thực nhưng dựa vào ảo để mà thực. Những câu thơ như thế làm nên vẻ đẹp hồn nhiên kín đáo mà dí dỏm.
Từng là người cầm súng trên chiến trường, đôi khi trong hành trình sáng tạo của mình, Ngọc Tuấn cũng viết những bài thơ nói về chiến tranh, về sự tàn khốc của bom đạn. Nhưng không giống như một số nhà thơ khác khi viết về đề tài này thường phải "lên giây cót", phải "chuyển gam" để phù hợp với nội dung phản ánh.
Ngọc Tuấn lại khác. Chừng như viết về không khí chiến tranh, về trận địa nhưng thơ anh vẫn không "đổi giọng", vẫn giữ vẻ nhè nhẹ, thầm thì quen thuộc của mình. Hãy xem anh viết về "Trận địa xưa":
Núi xanh khoác áo mây chàm
Chiến trường xưa
Giữa rừng hoang
Im lìm
Núi chiêu
Da diết tiếng chim
Bao nhiêu năm
Thức
Gọi tìm tên nhau
(Nơi trận địa xưa)
Hay khi viết về 60 đội viên thanh niên xung phong của Đại đội Thanh niên xung phong 915 anh hùng hy sinh tại khu vực ga Lưu Xá Thái Nguyên trong trận bom B52 Mỹ rải thảm đêm Noel năm 1972, cả nội dung đến âm điệu trong bài thơ vẫn nhẹ nhàng, dung dị cùng nỗi bồi hồi thương nhớ xen chút tự hào:
Sông cầu kia mãi còn xanh
Gia Sàng Lưu Xá chưa lành ngóng trông
Noel cháy
Một mùa đông
Ngày mẹ may áo con không trở về
Sắn khoai cõng hột gạo quê
Lá đơn chắt máu lời thề sắt son
(Lá vàng và tấm áo xanh)
Đọc toàn bộ thơ lục bát Ngọc Tuấn, một điều dễ nhận ra, thơ lục bát của anh ít nhiều có sự ảnh hưởng (hoặc đồng điệu) với thơ Đồng Đức Bốn, một nhà thơ được độc giả và nhiều nhà lí luận xếp và hàng "tứ trụ lục bát Việt Nam". Xưa nay, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhà thơ là chuyện bình thường.
Tôi nghĩ, Đồng Đức Bốn là người mở đường cho một lối viết mà nhiều nhà thơ được/bị ảnh hưởng, trong đó có Ngọc Tuấn với sự ngưỡng mộ và tiếp nhận. Nhưng có một điều khẳng định là trong sự ảnh hưởng hoặc học hỏi, thơ lục bát của Ngọc Tuấn đã có những sáng tạo mới để tạo ra con đường thơ riêng cho chính mình.
Đời cầm bút của Ngọc Tuấn có một điều đáng biểu dương là anh luôn chân thực và chỉ sáng tác theo tiếng nói của lòng mình. Những giá trị thẩm mỹ có được trong thơ Ngọc Tuấn đều được xuất phát từ sự chân thành của trái tim.
Thiển nghĩ, nếu từ ngót một nghìn bài lục bát hiện có của anh, gạn lọc, chọn ra khoảng trăm bài để xuất bản một tập lục bát riêng, chắc chắn sẽ có một tác phẩm đáng giá, để lại dấu ấn trong lòng độc giả.
Nhà thơ ĐỖ NGỌC TUẤN:
- Bút danh NGỌC TUẤN.
- Sinh năm 1950 tại Thái Nguyên.
- Hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên.
- Tham gia quân ngũ từ năm 1968 đến 1973, là thương binh.
TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN
1. Bao giờ em lại sang sông (thơ- 2005)
2. Quê ngoại (thơ- 2009)
3. Khi đêm không có ánh trăng (thơ- 2010)
4. Khoảng trời thu (thơ- 2012)
5. Đất và mặt trời (thơ- 2015).
GIẢI THƯỞNG:
- Giải A Cuộc thi sáng tác, biểu diễn các tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí về "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", tỉnh Thái Nguyên năm 2009;
- Giải 3 Báo Văn nghệ Thái Nguyên (năm 2011).
- Giải Tư viết về đề tài "Sống và hy vọng" Hội VHNT Thái Nguyên, VOV, Báo Nhân Dân đồng tổ chức (năm 2022).








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin