Văn xuôi Thái Nguyên viết về người lính: Từ cảm hứng sử thi đến cái nhìn nhân bản đa chiều

Cao Thị Hảo 16:02, 05/05/2026

     1. Hình tượng người lính là một trong những hình tượng trung tâm của văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong mạch văn học chiến tranh và hậu chiến. Nhìn từ cảm hứng sử thi, văn học giai đoạn trước 1975 thường xây dựng người lính như biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng tập thể, mang tầm vóc đại diện cho dân tộc. Tuy nhiên, từ sau 1975, dưới tác động của đổi mới tư duy nghệ thuật, văn học chuyển dần sang cảm hứng thế sự - đời tư, tiếp cận con người trong tính cá thể, đời sống riêng tư và những tổn thương hậu chiến. Trong bối cảnh đó, văn học Thái Nguyên - một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, gắn với chiến khu Việt Bắc - đã kiến tạo một diễn ngôn riêng về người lính, vừa kế thừa âm hưởng sử thi, vừa mở rộng sang chiều kích nhân văn, đa thanh. Chúng ta có thể kể đến một loạt sáng tác tiêu biểu như: Nhật kí cô văn thư (2003) – Ngọc Thị Kẹo, Những người mở đường (2016) – Hồ Thuỷ Giang, Ông Ké thượng cấp (2016) – Ma Trường Nguyên, Nắng phía sau mặt trời (2019) – Phan Thái và một số truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan, Đào Nguyên Hải, Hoàng Thị Hiền,…

Một số đầu sách của các nhà văn Thái Nguyên viết về đề tài người lính.
Một số đầu sách của các nhà văn Thái Nguyên viết về đề tài người lính.

     2. Một số biểu hiện của hình ảnh người lính trong văn xuôi Thái Nguyên

     2.1. Người lính trong không gian sử thi và kí ức cộng đồng

     Trước hết, trong Nhật ký cô văn thư (Ngọc Thị Kẹo), nhiều sự kiện, tư liệu, địa danh lịch sử có thật trên địa bàn tỉnh Bắc Thái trước đây đã được tái hiện sinh động. Âm hưởng sử thi được lưu giữ trong kí ức của nhân vật chính – cô Hạt –- một thanh niên xung phong trong Đại đội 915. Đây chính là hình mẫu của tác giả Ngọc Thị Kẹo. Qua lời kể của nhiều nhân chứng, cô văn thư tên Hạt đã ghi lại những dòng nhật kí về sự kiện đầy nước mắt đêm 24/12 - đêm Noel oan nghiệt khi Mỹ ném bom B52 xuống Ga Lưu Xá, Thái Nguyên khiến 60 người của Đại đội 915 và Đội 91 hy sinh khi đang làm nhiệm vụ bốc xếp hàng hóa cho chuyến tàu vào Nam. Nhiều chi tiết được ghi lại đầy xúc động về việc đi tìm thi thể những người đã hy sinh, gặp mảnh áo cháy sém ở khóm cây gai trinh nữ, các suất cơm tanh bành chưa kịp ăn,...

     Tiểu thuyết Những người mở đường của Hồ Thủy Giang là một minh chứng tiêu biểu cho cách tái hiện chiến tranh qua lăng kính hồi ức. Tác phẩm dựng lại câu chuyện về Đại đội Thanh niên xung phong 915 thông qua lời kể của những người sống sót, tạo nên một kết cấu tự sự hồi cố – nơi quá khứ và hiện tại đan xen, làm nổi bật tính chất đa chiều của hiện thực chiến tranh. Chiến tranh trong tác phẩm không chỉ là không gian của mất mát mà còn là nơi kết tinh tinh thần đồng đội, lí tưởng sống và niềm tin. Những cái chết bi tráng của các thanh niên xung phong - phần lớn là người dân tộc thiểu số - được khắc họa như những “đốm lửa kí ức”, vừa đau thương vừa thiêng liêng, góp phần kiến tạo một bản “tráng ca” về con người Thái Nguyên trong kháng chiến. Tương tự, Nắng phía sau mặt trời của Phan Thái cũng khai thác cùng bối cảnh lịch sử nhưng lựa chọn giọng điệu dung dị, tiết chế. Không cường điệu hóa, tác phẩm hướng đến chủ nghĩa hiện thực nhân văn, nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng của những con người rất trẻ - nhiều người mới 16 tuổi, thậm chí chưa biết chữ - nhưng mang trong mình ý chí chiến đấu phi thường. Cùng lấy bối cảnh là Đại đội thanh niên xung phong 915, hai nhà văn Hồ Thủy Giang và Phan Thái đã tạo dựng được một thế giới nghệ thuật khá đặc sắc trong tiểu thuyết Những người mở đường và Nắng phía sau mặt trời. Mỗi nhà văn lại có cách tiếp cận và thể hiện riêng. ở cả hai tác phẩm, nhân vật trung tâm đều là những thanh niên xung phong tuổi đời rất trẻ, họ hy sinh trong một sự kiện bi hùng. Các tác giả đã xây dựng các nhân vật là những con người đời thường, giản dị. Câu chuyện về sự hy sinh của họ khi đang làm nhiệm vụ bốc dỡ hàng tại ga Lưu Xá đêm Noel 1972 là câu chuyện về sự hy sinh thầm lặng của những con người “chiến đấu nơi hậu phương”.

     2.2. Hình tượng lãnh tụ và sự giao thoa giữa sử thi và đời thường

     Ông Ké thượng cấp (2016) là tiểu thuyết lịch sử nổi bật của nhà văn người Tày Ma Trường Nguyên, khắc họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc/ATK Định Hóa. Với tiểu thuyết Ông Ké thượng cấp, Ma Trường Nguyên đã tái hiện lịch sử về quá trình hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kì Người ở chiến khu Việt Bắc, từ những năm người ở Pác Bó - Cao Bằng đến những năm lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp thắng lợi ở chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Định Hóa - Thái Nguyên). Tác giả đã khắc họa sinh động hình ảnh Bác Hồ trong lòng người dân vừa gần gũi lại thân thương như “ông Ké” của bản làng. Với các chiến sĩ, Bác lại là một người lãnh đạo cao cả, vĩ đại như một thiên tài cách mạng. Những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc cũng được tạo dựng với không khí đầy hào hùng trong tác phẩm này.

     Trong Ông Ké thượng cấp, Ma Trường Nguyên đã tiếp cận hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ góc nhìn văn hóa bản địa. Bác Hồ hiện lên không chỉ là lãnh tụ thiên tài mà còn là “ông Ké” - cách gọi thân thương của đồng bào Tày. Cách xây dựng này cho thấy sự chuyển dịch từ mô hình “anh hùng hóa” sang “nhân dân hóa”, đưa hình tượng lãnh tụ về gần với đời sống cộng đồng. Không gian chiến khu Việt Bắc trong tác phẩm vừa mang tính lịch sử, vừa đậm chất văn hóa, góp phần tạo nên một diễn ngôn đặc thù của văn học miền núi.

     2.3. Người lính dân tộc thiểu số: từ biểu tượng đến cá thể

     Một đóng góp quan trọng của văn học Thái Nguyên là khắc họa hình tượng người lính dân tộc thiểu số trong cái nhìn văn hóa. Trong sáng tác của Bùi Thị Như Lan, người lính không chỉ là chiến sĩ mà còn là con người của bản làng, mang theo phong tục, tập quán và đời sống tinh thần riêng (họ thổi sáo, thổi kèn, hát giao duyên rất hay, làm mê hoặc và chinh phục bao trái tim của những người con gái vùng sơn cước). Họ hiện lên với vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, dũng cảm, vừa hồn hậu, giàu tình nghĩa. Những nhân vật như Chứ (Phố trên đá)  Pàng (Gió hoang),… cho thấy ý thức tự nguyện nhập ngũ, tiếp nối truyền thống gia đình và cộng đồng. Trong những ngày tháng chiến đấu ngoan cường, đã bao người trong số họ đã hy sinh anh dũng hoặc trở về với một thân hình mang đầy thương tích của chiến tranh. Đồng thời, văn học cũng không né tránh những hậu quả nặng nề của chiến tranh: thương tật, di chứng chất độc da cam, bi kịch gia đình và đổ vỡ tình cảm. ở đây, hình tượng người lính đã vượt khỏi khuôn khổ sử thi để trở thành chủ thể trải nghiệm  - một con người mang số phận cụ thể, với những tổn thương kéo dài trong đời sống hậu chiến (Mùa hoa gắm, Trăng mọc trong thung lũng, Mùa cây mắc tào trổ hoa, Bạn Toồng, Phố trên đá,…)

     Nhà văn Đào Nguyên Hải lại đề cập đến những người lính làm nhiệm vụ ở chiến trường Campuchia thời kì chống quân xâm lược Pôn Pốt. Truyện ngắn Cây cơm sấy là câu chuyện đầy cảm động về những người lính trẻ làm nhiệm vụ quốc tế cao cả và thiêng liêng giúp nước bạn Campuchia. Những cậu lính tuổi đời mười tám đôi mươi, có những người mang niềm tin khi xong nhiệm vụ sẽ trở về quê để cưới người con gái mình yêu thương. Nhưng chiến tranh nghiệt ngã, anh hy sinh khi làm nhiệm vụ cùng đồng đội. Đó là hình ảnh của Tư lém - một người lính trẻ trung hay nói, hay pha trò cười, lém lỉnh quê ở Long An. Trên chiến trường nước bạn, sự khốc liệt được thể hiện qua những lần người lính chạm trán đầy gay go với quân Pôn Pốt. Anh lính Việt Nam tên Hảo đã phải lao mình vào bãi mìn để chắn và báo hiệu cho những người dân thường Campuchia khỏi chết oan khi bị bọn Pôn Pốt “đẩy vào rừng”, “biến những người dân thành lá chắn đạn hoặc làm vật hy sinh”. Để ngăn đoàn người không đi vào bãi mìn, Hảo đã dũng cảm “lao thẳng vào bãi mìn, dang rộng hai tay chắn trước đoàn người… Một quầng lửa chớp loé… người Hảo tung lên cùng làn khói đen kịt” (Vết thương). Hảo bị thương nặng, anh vĩnh viễn mất khả năng làm bố - một tâm nguyện mong mỏi bao năm tháng của bố mẹ anh. Trong cuộc chiến cam go, người lính ấy đã sẵn sàng chọn hy sinh để mang lại bình yên, an toàn cho người dân.

     Nhân vật Đeng - Mảnh trăng ở bản Pò Tum (Hoàng Thị Hiền)  là một cô bé người dân tộc thiểu số, nạn nhân của nạn tảo hôn. Bố Đeng gán nợ đổi lấy thuốc phiện từ khi nó còn “nứt mắt”. Cô lấy chồng khi vẫn còn chưa dứt những trò chơi với đám trẻ trong làng. Đeng đã không cam chịu kiếp sống lầm lũi như trâu ngựa ở bản Pò Tum. Nó ra đi để góp sức mình cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đeng hy sinh trong đêm 24/12/1972, khi đang cùng đồng đội thay phiên nhau bốc dỡ hàng hoá. Cô gái nhỏ ấy hy sinh khi còn nhiều ước mơ dang dở. Đeng như ánh trăng soi sáng núi rừng Pò Tum, xua đi sự tăm tối của những hủ tục lạc hậu nơi bản làng xa xôi.

     2.4. Người lính sau chiến tranh: cái nhìn thế sự và nhân bản

     Trong các truyện ngắn như Trôi trong mây gió, Thầy Tâm, Trầm hương, Bùi Thị Như Lan tiếp tục khai thác hình tượng người lính trong đời sống hậu chiến. Đây là biểu hiện rõ nét của diễn ngôn hậu chiến trong văn học đương đại. Người lính trở về không còn ở vị trí trung tâm của hào quang chiến thắng mà phải đối diện với những trớ trêu của đời thường: mất mát tình yêu, gia đình tan vỡ, thân thể tàn tật, cô đơn và lạc lõng. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là phẩm chất đạo đức của họ vẫn được giữ gìn: sống trách nhiệm, vị tha, âm thầm cống hiến. Những lựa chọn đạo đức của nhân vật - như sự hy sinh thầm lặng, tình yêu không vụ lợi, hay trách nhiệm với cộng đồng - đã góp phần khẳng định một giá trị bền vững: phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong bối cảnh mới.

Chi hội Văn xuôi Thái Nguyên trong chuyến thực tế sáng tác 
tại Nhà thờ đá - Phát Diệm (Ninh Bình). Ảnh: Đào Tuấn
Chi hội Văn xuôi Thái Nguyên trong chuyến thực tế sáng tác tại Nhà thờ đá - Phát Diệm (Ninh Bình). Ảnh: Đào Tuấn

     Một điểm đáng chú ý trong văn học hậu chiến là sự thay đổi cái nhìn về “đối phương”. Những trang viết ghi lại sự cảm thông giữa những người lính ở hai bên chiến tuyến cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy đối kháng sang tư duy hòa giải. Chiến tranh, từ góc nhìn này, không chỉ là cuộc đối đầu ý thức hệ mà còn là bi kịch chung của con người. Những hành động cứu giúp, hy sinh cho nhau giữa hai bên đã mở ra một chiều kích nhân bản sâu sắc, góp phần làm phong phú thêm hình tượng người lính trong văn học. Anh bộ đội Chứ (trong truyện Phố trên đá) đã nhận ra tiềm năng kinh tế có thể góp phần làm giàu cho quê hương, cho những người dân trong bản khi khôi phục làng nghề truyền thống làm tượng đá, tranh đá vừa bảo tồn văn hóa vừa phát triển kinh tế làng bản.

     Một số tác phẩm đã đề cập đến mất mát, di chứng chiến tranh, nhưng nhìn chung bi kịch cá nhân thường được kể theo hướng giảm nhẹ, tiết chế, hoặc nhanh chóng được “hóa giải” bằng phẩm chất đạo đức. Những xung đột gay gắt giữa cá nhân và xã hội, giữa quá khứ và hiện tại chưa được đẩy tới tận cùng. Vì vậy, chiều sâu của diễn ngôn hậu chiến vẫn còn hạn chế so với các tác giả tiêu biểu khi viết về người lính như Nguyễn Minh Châu hay Chu Lai,…Những hạn chế này không phủ nhận giá trị của văn học Thái Nguyên viết về người lính, mà cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn. Việc tiếp tục mở rộng biên độ phản ánh, đào sâu bi kịch cá nhân, đồng thời đổi mới thi pháp sẽ giúp mảng văn học này hòa nhập mạnh mẽ hơn với dòng chảy văn học đương đại.

     3. Kết luận

     Văn học Thái Nguyên viết về người lính đã vận động từ cảm hứng sử thi đến cái nhìn đa chiều, nhân bản. Từ những bản tráng ca về thanh niên xung phong đến những câu chuyện đời thường hậu chiến, hình tượng người lính được tái hiện như một chỉnh thể phức hợp: anh hùng nhưng cũng đầy tổn thương; cao cả nhưng vẫn rất con người. Chính sự kết hợp giữa yếu tố lịch sử, văn hóa bản địa và trải nghiệm cá nhân đã tạo nên bản sắc riêng cho văn học Thái Nguyên, đồng thời góp phần cho tiến trình hiện đại hóa diễn ngôn về chiến tranh trong văn học Việt Nam đương đại.